Chúng ta thường có thói quen gán mác “của tôi” lên mọi thứ, từ tài sản vật chất đến những cảm xúc buồn vui, rồi tự trói mình vào những bận lòng rỗng tuếch. Căn bệnh bám chấp vi tế này chính là cội nguồn của bao nỗi bất an cắn rứt tâm trí con người hiện đại.
Trong Kinh Pháp Môn Căn Bản (Pali: Mūlapariyāya Sutta – Kinh Trung Bộ 1), Đức Phật đã chỉ rõ điểm khác biệt sống còn giữa một kẻ phàm phu và một bậc giác ngộ khi đối diện với thế giới. Bằng cách phân tích cách phản ứng với 24 khía cạnh của đời sống, bài kinh hé lộ chìa khóa để tháo gỡ thói quen bám víu đầy tai hại này. Hãy cùng khám phá thêm những góc nhìn giải thoát khác trong danh mục Kinh Trung Bộ.

Kinh Pháp Môn Căn Bản Giảng Ở Đâu Và Đức Phật Muốn Nói Về Điều Gì?
Một thời, Đức Thế Tôn ở tụ lạc Ukkattha, trong rừng Subhaga (rừng Hạnh Phúc), dưới gốc cây Sa La vương. Ngài gọi các Tỳ Kheo và nói: “Ta sẽ giảng cho các ông pháp môn căn bản tất cả pháp. Hãy nghe và khéo tác ý.” Các Tỳ Kheo vâng đáp, rồi Ngài bắt đầu giảng.
Bài giảng không kể chuyện. Ngài đi qua một danh sách các mục, và với từng hạng người, Ngài nói người ấy nhận biết các mục đó ra sao và điều đó dẫn đến đâu.
Danh Sách 24 Mục Được Nhắc Lại Cho Từng Hạng Người
Kinh nêu lần lượt các mục dưới đây. Với mỗi hạng người, Đức Phật nói lại đúng chuỗi này, từ đất cho đến Niết Bàn:
- Địa đại (đất)
- Thủy đại (nước)
- Hỏa đại (lửa)
- Phong đại (gió)
- Sinh vật
- Chư Thiên
- Sinh Chủ
- Phạm Thiên
- Quang Âm Thiên
- Biến Tịnh Thiên
- Quảng Quả Thiên
- Abhibhu (Thắng Giả)
- Không vô biên xứ
- Thức vô biên xứ
- Vô sở hữu xứ
- Phi tưởng phi phi tưởng xứ
- Sở kiến (cái được thấy)
- Sở văn (cái được nghe)
- Sở tư niệm (cái được nghĩ đến)
- Sở tri (cái được biết)
- Đồng nhất
- Sai biệt
- Tất cả
- Niết Bàn

Phàm Phu – Người Ít Nghe Pháp Nghĩ Mọi Thứ Là Của Mình
Kinh dùng từ tưởng tri cho cách phàm phu nhận biết sự vật: tưởng tri địa đại là địa đại. Hạng người đầu tiên là phàm phu. Kinh mô tả người này là ít nghe pháp, không được thấy các bậc Thánh và các bậc Chơn Nhân, không thuần thục và không tu tập pháp của các vị ấy.
Phàm phu tưởng tri địa đại là địa đại. Vì vậy người ấy:
- nghĩ đến địa đại;
- nghĩ đến tự ngã (cái “ta”) đối chiếu với địa đại;
- nghĩ đến tự ngã như là địa đại;
- nghĩ: “Địa đại là của ta”;
- có dục hỷ với địa đại, tức vui thích và ham thích nó.
Đức Phật hỏi: vì sao vậy? Và Ngài đáp: Ta nói người ấy không liễu tri địa đại, tức không hiểu thấu trọn vẹn nó.
Cách nghĩ này được lặp lại với thủy đại, hỏa đại, phong đại và mọi mục còn lại trong danh sách. Đến cả Niết Bàn, phàm phu cũng tưởng tri Niết Bàn là Niết Bàn, nghĩ “Niết Bàn là của ta”, rồi dục hỷ Niết Bàn. Kinh cũng nói người ấy không liễu tri Niết Bàn. (Về cách giữ tâm khỏi các ô nhiễm, xem thêm Kinh Tất Cả Lậu Hoặc – Bài 2.)
Vị Tỳ Kheo Còn Đang Tu Học – Biết Rõ Mà Không Ham Thích
Hạng người thứ hai là vị Tỳ Kheo hữu học, tức người còn học. Kinh mô tả vị ấy là tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự an ổn cao nhất, thoát khỏi các ách buộc. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại, nghĩa là biết rõ nó như nó là.
Vì thắng tri như vậy, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến tự ngã đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến tự ngã như là địa đại, không nghĩ “Địa đại là của ta”, và không dục hỷ địa đại. Đức Phật nói: vị ấy có thể liễu tri địa đại. Điều này cũng đúng với mọi mục còn lại, cho đến Niết Bàn.
Bậc A La Hán – Liễu Tri, Hết Tham, Hết Sân, Hết Si
Hạng người thứ ba là Tỳ Kheo A La Hán. Kinh mô tả vị ấy:
- các lậu hoặc (những ô nhiễm trong tâm) đã tận;
- tu hành thành mãn;
- các việc nên làm đã làm;
- đã đặt gánh nặng xuống;
- đã thành đạt lý tưởng;
- đã tận trừ hữu kiết sử (các dây trói buộc vào sự tồn tại);
- chánh trí giải thoát.
Vị ấy thắng tri từng mục trong danh sách, và không nghĩ “của ta”, không dục hỷ. Phần này được giảng bốn lần, mỗi lần nêu một lý do khác nhau cho việc vị ấy không dục hỷ:
- Vì vị ấy đã liễu tri các mục ấy.
- Vì vị ấy không có tham dục, nhờ tham dục đã được đoạn trừ.
- Vì vị ấy không có sân hận, nhờ sân hận đã được đoạn trừ.
- Vì vị ấy không có si mê, nhờ si mê đã được đoạn trừ.
Đức Như Lai Biết Dục Hỷ Là Căn Bản Của Đau Khổ
Hạng người cuối cùng là Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác. Ngài cũng thắng tri từng mục, không nghĩ “của ta” và không dục hỷ. Lần giảng thứ nhất, Đức Phật nói lý do là Như Lai đã liễu tri các mục ấy.
Lần giảng thứ hai, Ngài nói lý do là Như Lai biết rằng: “Dục hỷ là căn bản của đau khổ, từ hữu, sinh khởi lên, và già chết đến với loài sinh vật.” Hữu là sự tồn tại. Do vậy, Đức Phật nói, Như Lai đã diệt trừ hoàn toàn các ái (sự thèm khát), đã ly tham, đoạn diệt, xả ly và từ bỏ hoàn toàn các ái, nên đã chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Kinh kết thúc ở đó: Thế Tôn thuyết giảng như vậy, và các Tỳ Kheo hoan hỷ tín thọ lời dạy của Ngài.
Bớt Nghĩ “Cái Này Của Tôi” Trong Ngày Thường

Kinh này nói điều rất trừu tượng, nhưng có một ý đưa vào đời sống được: ta nhận ra một thứ, rồi thêm vào đó chữ “của ta” và sự ham thích. Ba gợi ý dưới đây là phần áp dụng của người viết, không phải lời kinh.
Ghi lại mỗi lần mình nói “của tôi”
Kinh tả phàm phu đi từng bước: nghĩ đến vật, đối chiếu mình với vật, nghĩ “của ta”, rồi ham thích. Hôm nay hãy để ý mỗi lần bạn nói hay nghĩ “của tôi”: cái điện thoại của tôi, ý kiến của tôi, chỗ ngồi của tôi. Chỉ cần ghi ba lần vào ghi chú điện thoại. Chưa cần sửa gì. Đến tối, đọc lại và xem trong ba lần ấy, lần nào kèm theo sự ham thích hay lo mất.
Hỏi mình đang thích giữ điều gì
Đức Phật nói dục hỷ là căn bản của đau khổ. Lần tới khi bạn bực hoặc lo, hãy hỏi: mình đang thích giữ điều gì? Ví dụ lo vì bị chê có thể là đang thích giữ hình ảnh tốt về mình. Bực vì bị chen ngang ngoài đường có thể là đang thích giữ cảm giác mình được tôn trọng. Viết ra một câu, rồi xem nó có đúng không.
Biết rõ một thứ mà không thêm gì vào
Bậc hữu học thắng tri: biết mọi thứ như nó là, không nghĩ “của ta”. Hãy thử với một tách trà trong năm phút. Chỉ biết “đây là tách trà”, “đây là vị nóng”, không thêm “tách của tôi” hay “ngon, dở theo ý tôi”. Sau năm phút, ghi lại điều bạn đã tự thêm vào. Kinh nói thói quen thêm “của ta” áp dụng đến cả những thứ rất cao như Niết Bàn.
Nếu cần một lộ trình từng bước để bắt đầu, bạn có thể xem lộ trình 21 ngày học Phật pháp.
Câu Hỏi Thường Gặp Về Kinh Pháp Môn Căn Bản
1. Tưởng tri khác thắng tri thế nào?
Tưởng tri là cách phàm phu nhận biết sự vật: tưởng tri địa đại là địa đại, rồi nghĩ “Địa đại là của ta” và dục hỷ (vui thích, ham thích). Thắng tri là cách bậc hữu học, A La Hán và Như Lai nhận biết: thắng tri địa đại là địa đại, rồi không nghĩ “của ta” và không dục hỷ.
2. Vì sao Đức Phật nói dục hỷ là căn bản của đau khổ?
Dục hỷ là sự vui thích, ham thích. Kinh nói: “Dục hỷ là căn bản của đau khổ, từ hữu, sinh khởi lên, và già chết đến với loài sinh vật.” Hữu là sự tồn tại. Nhờ biết điều đó và diệt trừ hoàn toàn các ái, Như Lai đã giác ngộ.
3. Những điều rất cao như cõi trời hay Niết Bàn cũng bị nghĩ là “của ta” sao?
Theo kinh, phàm phu thì có. Người ấy tưởng tri Niết Bàn là Niết Bàn, nghĩ “Niết Bàn là của ta” và dục hỷ Niết Bàn. Vị Tỳ Kheo hữu học, bậc A La Hán và Như Lai thì không nghĩ như vậy.















