Tóm Tắt Kinh Song Tầm (Trung Bộ 19) – Hai Phần Suy Nghĩ Của Tâm

Mỗi ngày trôi qua, trong đầu chúng ta là một bãi chiến trường ngầm giữa những luồng suy nghĩ thiện lành và những toan tính, tham sân độc hại. Nếu để mặc cho những dòng suy tưởng tiêu cực ấy tự do dắt mũi, chúng ta sẽ dần đánh mất sự chủ động và rơi vào vực thẳm của muộn phiền.

Mở ra bí quyết làm chủ dòng chảy tư duy, Kinh Song Tầm (Pali: Dvedhavitakka Sutta – Kinh Trung Bộ 19) ghi lại bài học tự huấn luyện tâm trí vô giá của chính Đức Phật khi Ngài còn chưa giác ngộ. Thông qua việc phân loại nghiêm ngặt và quán sát hậu quả của từng nhóm suy nghĩ, Ngài đã tìm ra quy luật định hình thói quen của bộ não để từ đó chuyển hóa hoàn toàn nội tâm. Hãy cùng học cách làm chủ tư duy qua các bài Kinh Trung Bộ cốt lõi.

Tóm tắt Kinh Song Tầm - Đức Phật phân loại suy nghĩ thành hai nhóm tại Kỳ Viên

Bối Cảnh Kinh Song Tầm – Đức Phật Kể Thuở Còn Là Bồ Tát

Một thời, Thế Tôn ở Xá Vệ (Savatthi), tại Kỳ Đà Lâm (Jetavana), vườn ông Cấp Cô Độc (Anathapindika). Ngài gọi các Tỳ Kheo và nói: trước khi Ngài giác ngộ, khi chưa thành Chánh Giác và còn là Bồ Tát, Ngài suy nghĩ: “Ta sống suy tư và chia hai suy tầm.”

Phần thứ nhất gồm ba loại:

  1. Dục tầm, tức suy nghĩ về dục.
  2. Sân tầm, tức suy nghĩ về sân.
  3. Hại tầm, tức suy nghĩ về hại.

Phần thứ hai gồm ba loại đối lại:

  1. Ly dục tầm, tức suy nghĩ lìa dục.
  2. Vô sân tầm, tức suy nghĩ không sân.
  3. Vô hại tầm, tức suy nghĩ không hại.

Nhìn Rõ Suy Nghĩ Xấu Dẫn Đến Đâu Thì Nó Biến Mất

Đức Phật kể: Ngài sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Khi dục tầm khởi lên, Ngài biết rõ: “Dục tầm này khởi lên nơi Ta, và dục tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết Bàn.”

Ngài lần lượt suy tư bốn điều, và mỗi lần như vậy dục tầm biến mất:

  1. Dục tầm này đưa đến tự hại.
  2. Dục tầm này đưa đến hại người.
  3. Dục tầm này đưa đến hại cả hai.
  4. Dục tầm này diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết Bàn.

Như vậy Ngài tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận dục tầm. Khi sân tầm khởi lên, rồi hại tầm khởi lên, Ngài cũng làm đúng như thế.

Quy luật khuynh hướng của tâm thức và phương pháp đoạn trừ tư tưởng xấu

Ngài rút ra quy luật: Tỳ Kheo suy tư, quán sát nhiều về điều gì thì tâm sinh khuynh hướng về điều ấy. Nếu suy tư nhiều về dục tầm, vị ấy bỏ ly dục tầm, và tâm có khuynh hướng về dục tầm. Cũng vậy với sân tầm: vị ấy bỏ vô sân tầm. Với hại tầm: vị ấy bỏ vô hại tầm.

Ngài nêu ví dụ người mục đồng vào cuối mùa mưa, mùa thu, khi lúa đã trổ hạt. Người ấy cầm roi đánh bò bên này, đánh bên kia, chế ngự chúng, ngăn chận chúng. Vì người mục đồng thấy rằng do nhân duyên này sẽ đưa đến chết, tù tội, đánh đập hay trách móc. Cũng vậy, Ngài đã thấy sự nguy hại, hạ liệt, uế nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy sự lìa bỏ, lợi ích, thanh tịnh của các thiện pháp.

Nghĩ Điều Lành Quá Lâu Cũng Làm Thân Mệt

Rồi khi ly dục tầm khởi lên, Ngài biết rõ: ly dục tầm này không đưa đến tự hại, không hại người, không hại cả hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào phiền não, đưa đến Niết Bàn. Dù ban đêm, ban ngày hay cả đêm ngày Ngài suy tư về điều ấy, Ngài cũng không thấy sợ hãi vì nhân duyên ấy. Ngài làm như vậy với vô sân tầm và vô hại tầm.

Nhưng Ngài nói: nếu suy tư, quán sát quá lâu, thân có thể mệt mỏi. Thân mệt mỏi thì tâm bị dao động, tâm dao động thì khó định tĩnh. Vì vậy Ngài tự trấn an tâm, trấn tịnh tâm, khiến nhất tâm, khiến định tĩnh, để tâm không dao động.

Quy luật cũng đúng chiều ngược lại: nếu suy tư nhiều về ly dục tầm, vị ấy bỏ dục tầm, và tâm có khuynh hướng về ly dục tầm. Với vô sân tầm thì bỏ sân tầm, với vô hại tầm thì bỏ hại tầm.

Ví dụ thứ hai: cuối mùa hè, khi lúa đã cất vào kho thóc, người mục đồng chăn bò ở dưới gốc cây hay ngoài trời. Người ấy chỉ cần nghĩ: “Đây là những con bò.” Cũng vậy, Ngài chỉ cần nghĩ: “Đây là những pháp.”

Ẩn dụ người chăn bò mùa thu và mùa hè trong Kinh Song Tầm

Ba Canh Đêm Chứng Đạo: Nhớ Đời Trước, Thấy Chúng Sinh Theo Nghiệp, Diệt Lậu Hoặc

Ngài phát tâm dõng mãnh, tinh tấn, không tiêu cực, niệm không tán loạn được an trú, thân được khinh an, không cuồng nhiệt, tâm định tĩnh nhất tâm. Rồi Ngài chứng Tứ Thiền (bốn thiền):

  1. Thiền thứ nhất: ly dục, ly ác, bất thiện pháp, hỷ lạc do ly dục sinh, có tầm có tứ.
  2. Thiền thứ hai: diệt tầm và tứ, hỷ lạc do định sinh, không tầm không tứ, bên trong tĩnh lặng, nhất tâm.
  3. Thiền thứ ba: ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”.
  4. Thiền thứ tư: xả lạc, xả khổ, diệt hỷ và ưu đã cảm thọ trước, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, nhu nhuyến, vững chắc, bình thản, Ngài chứng Tam Minh (ba minh, chứng trong ba canh đêm):

  1. Canh đầu.
    Ngài hướng tâm đến túc mạng trí và nhớ các đời sống quá khứ, từ một đời, hai đời cho đến một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Ngài nhớ: tại chỗ kia Ngài có tên thế này, dòng họ thế này, giai cấp thế này, ăn món thế này, thọ khổ lạc thế này, tuổi thọ đến mức thế này, chết rồi sinh ra ở chỗ khác. Vô minh diệt, minh sinh.
  2. Canh giữa.
    Ngài hướng tâm đến trí biết sự sống chết của chúng sinh. Bằng thiên nhãn thuần tịnh, Ngài thấy chúng sinh hạ liệt, cao sang, đẹp đẽ, thô xấu, may mắn, bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Ai làm ác hạnh về thân, lời nói, ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến thì sau khi chết sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ai làm thiện hạnh về thân, lời nói, ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến thì sinh lên thiện thú, cõi Trời.
  3. Canh ba.
    Ngài hướng tâm đến lậu tận trí và biết rõ như thật tám điều: đây là khổ, nguyên nhân của khổ, khổ diệt, con đường đưa đến khổ diệt; đây là các lậu hoặc, nguyên nhân các lậu hoặc, các lậu hoặc diệt, con đường đưa đến các lậu hoặc diệt. Tâm Ngài thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Ngài biết: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.”

Đoàn Nai Bên Hồ Nước Sâu: Ai Chặn Đường An Ổn, Ai Mở Đường Cho Chúng

Đức Phật kể: trong khu rừng rậm có một hồ nước lớn thâm sâu, và một đoàn nai lớn sống gần bên. Có người đến, không muốn đoàn nai được lợi ích, hạnh phúc, an ổn. Người ấy đóng con đường yên ổn, mở con đường nguy hiểm, đặt con mồi đực và con mồi cái. Sau một thời gian, đoàn nai gặp ách nạn và hao mòn dần.

Rồi có người khác đến, muốn đoàn nai được lợi ích, hạnh phúc, an ổn. Người ấy mở con đường yên ổn, đóng con đường nguy hiểm, đem con mồi đực đi, hủy con mồi cái. Sau một thời gian, đoàn nai tăng trưởng, hưng thịnh.

Ngài giải thích ví dụ:

  • Hồ nước lớn, thâm sâu chỉ cho các dục.
  • Đoàn nai lớn chỉ cho các loài hữu tình.
  • Người không muốn chúng được lợi ích chỉ cho ác ma.
  • Con đường nguy hiểm chỉ cho đường tà tám ngành.
  • Con mồi đực chỉ cho hỷ và tham.
  • Con mồi cái chỉ cho vô minh.
  • Người muốn chúng được lợi ích chỉ cho Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.
  • Con đường yên ổn, an toàn, đưa đến hoan hỷ chỉ cho Bát Chánh Đạo (Thánh đạo tám ngành).

Đường tà tám ngành gồm:

  1. Tà tri kiến
  2. Tà tư duy
  3. Tà ngữ
  4. Tà nghiệp
  5. Tà mạng
  6. Tà tinh tấn
  7. Tà niệm
  8. Tà định

Bát Chánh Đạo gồm:

  1. Chánh tri kiến
  2. Chánh tư duy
  3. Chánh ngữ
  4. Chánh nghiệp
  5. Chánh mạng
  6. Chánh tinh tấn
  7. Chánh niệm
  8. Chánh định

Đức Phật kết: Ngài đã mở con đường yên ổn, đóng con đường nguy hiểm, mang đi con mồi đực, hủy con mồi cái. Những gì vị Đạo Sư cần làm cho đệ tử vì lòng thương tưởng, Ngài đã làm. “Chư Tỳ Kheo, đây là các gốc cây, đây là các chỗ trống. Hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau. Đó là lời giáo huấn của Ta.”

Nghĩ Gì Nhiều Thì Tâm Nghiêng Về Đó

Kinh nói về cách Bồ Tát làm với tâm mình, nhưng quy luật “nghĩ nhiều thì nghiêng về đó” ai cũng gặp. Ba cách dưới đây là phần áp dụng của người viết, không phải lời kinh.

Hỏi suy nghĩ xấu dẫn đến đâu

Đức Phật tự hỏi suy nghĩ ấy có đưa đến tự hại, hại người, hại cả hai không. Lần tới nảy ý trả đũa, bạn thử hỏi đúng ba câu ấy. Ví dụ, đồng nghiệp nhận công của bạn và bạn muốn nói xấu họ trong nhóm. Hỏi xong, bạn thấy mình mất ngủ, người kia bị tổn thương, và chuyện thêm rối. Khi đã thấy rõ như vậy, ý nghĩ ấy dễ lắng xuống.

Cho tâm nghĩ nhiều về điều lành

Kinh nói nghĩ nhiều về ly dục tầm, vô sân tầm, vô hại tầm thì tâm nghiêng về đó. Hãy chọn một ý lành và nghĩ về nó mỗi sáng. Ví dụ, trên đường đi làm, bạn nghĩ đến một người đã giúp mình và soạn sẵn lời cảm ơn gửi họ. Làm vài tuần, bạn sẽ thấy tâm quen với hướng ấy hơn.

Nghĩ vừa đủ rồi cho thân nghỉ

Kinh nói nghĩ lành quá lâu thì thân mệt, tâm dao động, nên Ngài trấn an tâm cho nhất tâm. Khi bạn đã nghĩ chuyện tha thứ hay chuyện cần làm khoảng mười phút, hãy đứng dậy, uống nước hoặc ngồi yên thở. Ví dụ, bạn trằn trọc nửa đêm vì một chuyện đã qua. Hãy ngừng lại, thở vài lần, rồi để đến sáng nghĩ tiếp. Nếu cần một lộ trình từng bước, bạn có thể xem lộ trình 21 ngày học Phật pháp.

Bài trước trong bộ là Kinh Mật Hoàn, bài tiếp theo là Kinh An Trú Tầm.

Câu Hỏi Thường Gặp Về Kinh Song Tầm

1. “Song tầm” nghĩa là gì?

Song tầm là hai loại suy nghĩ. Một phần gồm dục tầm, sân tầm, hại tầm (suy nghĩ về dục, về sân, về hại). Phần kia gồm ly dục tầm, vô sân tầm, vô hại tầm (suy nghĩ lìa dục, không sân, không hại).

2. Quy luật “nghĩ nhiều về điều gì thì tâm nghiêng về điều ấy” nói gì?

Kinh nói: nếu suy tư nhiều về dục tầm, tâm có khuynh hướng về dục tầm. Nếu suy tư nhiều về ly dục tầm, tâm có khuynh hướng về ly dục tầm. Sân tầm và hại tầm cũng vậy, với vô sân tầm và vô hại tầm là chiều ngược lại.

3. Vì sao Đức Phật nói suy tư quá lâu cũng cần dừng?

Ngài nói suy tư quá lâu thì thân mệt mỏi, thân mệt mỏi thì tâm dao động, tâm dao động thì khó định tĩnh. Vì vậy Ngài tự trấn an tâm, khiến nhất tâm và định tĩnh.

Chia sẻ bài viết

Chia sẻ lên Facebook

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *