Tóm Tắt Kinh Bẫy Mồi – Kinh Trung Bộ 25: Bài Học Giải Thoát Khỏi Ác Ma

Cạm bẫy nguy hiểm nhất trong cuộc đời không phải là những chông gai hiển hiện, mà chính là những cám dỗ ngọt ngào được ngụy trang khéo léo sau danh vọng, tiền tài và sự hưởng thụ. Rất nhiều người nghĩ mình đủ tỉnh táo để dạo chơi giữa dục lạc, nhưng vô tình đã bước thẳng vào chiếc bẫy tinh vi của thế gian.

Bằng Kinh Bẫy Mồi (Pali: Nivāpa Sutta – Kinh Trung Bộ 25), Đức Phật đã phác họa bốn đàn nai tượng trưng cho những cách ứng xử khác nhau của hành giả trước miếng mồi độc hại của Ác Ma. Lời cảnh báo sâu sắc ấy sẽ mở ra cho bạn nhãn quan chân thật hơn khi nghiên cứu bộ kinh Nikaya Trung Bộ.

Tóm tắt Kinh Bẫy Mồi Nivapa Sutta Kinh Trung Bộ 25

Bối Cảnh Kinh Bẫy Mồi – Thế Tôn Kể Về Người Thợ Săn Gieo Mồi

Một thời, Thế Tôn ở Xá Vệ (Savatthi), tại Kỳ Đà Lâm (Jetavana), vườn ông Cấp Cô Độc (Anathapindika). Ngài gọi các Tỳ Kheo, và các vị vâng đáp. Rồi Ngài thuyết giảng.

Người thợ săn bẫy mồi khi gieo đồ mồi cho đàn nai không nghĩ rằng: “Ta gieo đồ mồi này cho đoàn nai ăn để đàn ấy được sống lâu, được tốt đẹp thêm và được nuôi dưỡng lâu dài hơn.”

Người thợ săn nghĩ khác: ta gieo đồ mồi để đàn nai xâm nhập, tham đắm ăn các món ăn. Khi đã xâm nhập, tham đắm, chúng trở thành mê loạn. Do mê loạn, chúng trở thành phóng dật. Do phóng dật, chúng trở thành những vật bị làm theo ý người ta muốn giữa các đồ mồi này.

Bốn Đàn Nai Trước Cái Bẫy

Đàn nai thứ nhất.
Xâm nhập, tham đắm, ăn các đồ mồi. Chúng mê loạn, rồi phóng dật, rồi bị làm theo ý người thợ săn. Đàn này không thoát khỏi ý lực của người thợ săn.

Đàn nai thứ hai.
Thấy đàn đầu bị như vậy, đàn này quyết hoàn toàn từ bỏ các đồ mồi, từ bỏ các vật dụng đáng sợ hãi, đi sâu vào rừng và an trú.
Cuối tháng mùa hạ, cỏ nước khan hiếm, thân hình chúng hết sức gầy yếu, sức lực kiệt quệ. Vì sức lực kiệt quệ, chúng trở lại các đồ mồi, xâm nhập, tham đắm, rồi mê loạn, phóng dật và bị làm theo ý người thợ săn. Đàn này cũng không thoát.

Đàn nai thứ ba.
Thấy hai đàn trước, đàn này nghĩ: ta hãy làm một chỗ ẩn nấp gần các đồ mồi, rồi không xâm nhập, không tham đắm mà ăn. Nhờ vậy sẽ không mê loạn, không phóng dật, không bị làm theo ý người thợ săn. Chúng làm như vậy và quả không mê loạn.
Người thợ săn và quyến thuộc nghĩ: đàn nai này thật tinh khôn, xảo quyệt, có thần lực và ma quái, vì chúng ăn đồ mồi mà ta không biết đường đi lối về của chúng. Họ bao vây các đồ mồi bằng những cây cột to lớn và những bẫy sập khắp mọi nơi, và thấy được chỗ ẩn nấp của đàn nai thứ ba. Đàn này không thoát.

Ẩn dụ thợ săn đặt bẫy mồi và 4 đàn nai trong rừng

Đàn nai thứ tư.
Thấy ba đàn trước, đàn này làm chỗ ẩn nấp tại một nơi mà người thợ săn và quyến thuộc không thể đến được. Rồi chúng ăn đồ mồi mà không xâm nhập, không tham đắm, nên không mê loạn, không phóng dật, không bị làm theo ý người thợ săn.
Người thợ săn cũng nghĩ đàn này tinh khôn, xảo quyệt, và bao vây đồ mồi như trước, nhưng không thấy được chỗ ẩn nấp của chúng. Họ lại nghĩ: nếu đánh phá đàn thứ tư, chúng bị đánh phá sẽ đánh phá các đàn khác, và toàn thể đàn nai sẽ từ bỏ các đồ mồi. Vì vậy họ không can thiệp vào đàn thứ tư. Đàn nai thứ tư thoát khỏi ý lực của người thợ săn.

Đồ Mồi, Thợ Săn Và Đàn Nai Là Những Gì

Thế Tôn nói ví dụ này dùng để giải thích ý nghĩa, và ý nghĩa như sau:

  • Đồ mồi đồng nghĩa với năm thứ nuôi lớn lòng dục (kinh gọi là năm dục trưởng dưỡng: sắc, tiếng, hương, vị, xúc mà mình ưa thích).
  • Người thợ săn bẫy mồi đồng nghĩa với Ác Ma.
  • Quyến thuộc của người thợ săn đồng nghĩa với quyến thuộc của Ác Ma.
  • Các đàn nai đồng nghĩa với các Sa Môn, Bà La Môn.

Ăn Mồi Đến Mê Loạn Hoặc Bỏ Mồi Rồi Kiệt Sức

Hạng thứ nhất.
Các Sa Môn, Bà La Môn này xâm nhập, tham đắm, ăn các đồ mồi do Ác Ma gieo ra và các vật dụng thế gian. Họ mê loạn, phóng dật, và bị làm theo ý Ác Ma muốn. Họ không thoát khỏi ý lực của Ác Ma. Thế Tôn nói hạng này giống như đàn nai thứ nhất.

Hạng thứ hai.
Thấy hạng thứ nhất, họ quyết hoàn toàn từ bỏ các đồ mồi và các vật dụng thế gian, từ bỏ các vật dụng đáng sợ hãi, đi sâu vào rừng và an trú. Ở đó, họ sống bằng:

  1. cỏ lúa
  2. lúa tắc
  3. gạo lức
  4. hột cải Nivara
  5. da vụn
  6. trấu
  7. nước bột gạo
  8. hột vừng
  9. cỏ
  10. phân bò
  11. trái cây
  12. rễ cây trong rừng
  13. trái cây rụng

Cuối tháng mùa hạ, cỏ nước khan hiếm, thân hình họ hết sức gầy yếu. Vì vậy sức lực tinh tấn của họ bị kiệt quệ. Vì sức lực tinh tấn kiệt quệ, tâm giải thoát bị kiệt quệ. Vì tâm giải thoát kiệt quệ, họ trở lại các đồ mồi của Ác Ma và các vật dụng thế gian, xâm nhập, tham đắm, rồi mê loạn, phóng dật và bị làm theo ý Ác Ma muốn. Thế Tôn nói hạng này giống như đàn nai thứ hai.

Ẩn Gần Mồi Mà Còn Giữ Mười Quan Điểm

Thấy hai hạng trước, hạng thứ ba nghĩ: ta hãy làm một chỗ ẩn nấp gần các đồ mồi của Ác Ma và các vật dụng thế gian, rồi không xâm nhập, không tham đắm mà ăn. Họ làm như vậy, và không mê loạn, không phóng dật, không bị làm theo ý Ác Ma muốn.

Nhưng rồi họ có những tà kiến sau:

  1. Thế giới là thường còn.
  2. Thế giới là không thường còn.
  3. Thế giới là hữu biên (có giới hạn).
  4. Thế giới là vô biên (không có giới hạn).
  5. Mạng sống và thân thể là một.
  6. Mạng sống và thân thể là khác.
  7. Như Lai sau khi chết có tồn tại.
  8. Như Lai sau khi chết không tồn tại.
  9. Như Lai sau khi chết có tồn tại và không tồn tại.
  10. Như Lai sau khi chết không tồn tại và không không tồn tại.

Vì vậy hạng thứ ba không thoát khỏi ý lực của Ác Ma. Thế Tôn nói hạng này giống như đàn nai thứ ba.

Chín Bước Từ Thiền Thứ Nhất Trở Đi

Thấy ba hạng trước, hạng thứ tư nghĩ: ta hãy làm chỗ ẩn nấp tại một nơi mà Ác Ma và quyến thuộc không thể đến được, rồi không xâm nhập, không tham đắm mà ăn các đồ mồi và vật dụng thế gian. Họ làm như vậy, không mê loạn, không phóng dật, không bị làm theo ý Ác Ma muốn. Họ thoát khỏi ý lực của Ác Ma. Thế Tôn nói hạng này giống như đàn nai thứ tư.

Đàn nai thứ 4 nương tựa cảnh giới thiền vượt ngoài tầm Ác Ma

Thế Tôn hỏi: sao gọi là nơi Ác Ma và quyến thuộc không thể đến được? Ngài nêu chín bước. Với mỗi bước, kinh đều kết: như vậy gọi là Tỳ Kheo làm Ác Ma mù mắt, đoạn tuyệt mắt của Ác Ma, không còn dấu tích, khiến Ác Ma không thấy đường đi lối về.

  1. Thiền thứ nhất.
    Tỳ Kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, có tầm có tứ.
  2. Thiền thứ hai.
    Diệt tầm và tứ, chứng và trú một trạng thái hỷ lạc do định sinh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
  3. Thiền thứ ba.
    Ly hỷ trú xả, chánh niệm tĩnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú.
  4. Thiền thứ tư.
    Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
  5. Không vô biên xứ.
    Vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, nghĩ rằng “Hư không là vô biên”.
  6. Thức vô biên xứ.
    Vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng “Thức là vô biên”.
  7. Vô sở hữu xứ.
    Vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng “Không có một vật gì”.
  8. Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
    Vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
  9. Diệt thọ tưởng.
    Vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng (định). Sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc (những phiền não ngấm trong tâm) được diệt trừ.

Với bước cuối, kinh nói thêm rằng vị ấy đã vượt khỏi tham trước ở đời. Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ Kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Làm Gì Khi Ham Muốn Cứ Kéo Mình Quay Lại? Vài Việc Thử Từ Bốn Đàn Nai

Kinh nói về Sa Môn, Bà La Môn và Ác Ma, nhưng hình ảnh đàn nai cũng soi được thói quen của người đời. Ba việc dưới đây là phần áp dụng của người viết, không phải lời kinh.

Bỏ dần, đừng bỏ hết rồi kiệt sức

Đàn nai thứ hai bỏ hết đồ mồi, đến cuối mùa hạ thân gầy yếu, sức lực kiệt quệ rồi quay lại. Nếu muốn bớt một thói quen như lướt điện thoại, hãy giảm từng bước và vẫn ăn ngủ đủ, để thân còn sức mà tinh tấn. Ví dụ, anh Hùng đặt luôn quy định cấm hẳn điện thoại, ba ngày sau mệt mỏi và quay lại lướt cả đêm. Tuần sau anh giảm mỗi ngày nửa tiếng và ngủ đủ giờ, nên giữ được lâu hơn.

Soi xem mình còn ôm quan điểm nào

Hạng thứ ba không còn ham đồ mồi nhưng vẫn giữ những quan điểm của mình, nên không thoát. Khi tranh luận, hãy dừng trước chữ “chắc chắn là vậy” và nghe thêm một câu. Ví dụ, chị Thu bỏ được thói mua sắm nhưng vẫn khăng khăng chồng mình luôn sai. Chị thử hỏi thêm một câu trước khi kết luận, và nhiều lần câu trả lời khác điều chị đoán.

Tìm một chỗ trú cho tâm

Đàn nai thứ tư có chỗ ẩn nấp mà thợ săn không đến được. Mỗi ngày hãy dành mười phút ngồi yên một chỗ, để ý hơi thở, trước khi mở mạng xã hội hay bật tivi. Ví dụ, ông Sơn ngồi mười phút mỗi tối sau bữa cơm, rồi mới xem điện thoại, nên đỡ bị cuốn vào những tin vặt. Nếu cần một lộ trình từng bước để bắt đầu, bạn có thể xem lộ trình 21 ngày học Phật pháp.

Bài trước trong bộ là Kinh Trạm Xe, bài tiếp theo là Kinh Thánh Cầu.

Câu Hỏi Thường Gặp Về Kinh Bẫy Mồi

1. Trong Kinh Bẫy Mồi, đồ mồi, thợ săn và đàn nai ứng với điều gì?

Đồ mồi ứng với năm dục trưởng dưỡng (năm thứ nuôi lớn lòng dục), người thợ săn ứng với Ác Ma, và các đàn nai ứng với các Sa Môn, Bà La Môn. Quyến thuộc của người thợ săn ứng với quyến thuộc của Ác Ma.

2. Vì sao hạng thứ hai và hạng thứ ba không thoát khỏi Ác Ma?

Hạng thứ hai bỏ hết đồ mồi, nhưng thân gầy yếu làm sức tinh tấn và tâm giải thoát kiệt quệ nên quay lại. Hạng thứ ba không tham đồ mồi nhưng giữ mười quan điểm, như thế giới thường còn hay không thường còn, nên vẫn không thoát.

3. “Nơi Ác Ma không đến được” là gì?

Theo kinh, đó là chín bước: thiền thứ nhất đến thiền thứ tư, rồi Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ và Diệt thọ tưởng. Ở mỗi bước, vị Tỳ Kheo khiến Ác Ma không thấy đường đi lối về.

Chia sẻ bài viết

Chia sẻ lên Facebook

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *