Cả cuộc đời chúng ta miệt mài phấn đấu và tích lũy, nhưng có bao giờ bạn tự hỏi những thứ mình đang kiếm tìm vốn dĩ cũng phải chịu quy luật tàn phai, bệnh tật và tan biến? Cuộc rượt đuổi phù du ấy chỉ đem lại sự mệt mỏi vô tận nếu tâm trí chưa nhận diện được đâu mới là giá trị trường tồn.
Với Kinh Thánh Cầu (Pali: Ariyapariyesanā Sutta – Kinh Trung Bộ 26), Đức Phật đã đích thân trải lòng về hành trình tầm đạo vĩ đại của chính mình, phân định rạch ròi giữa lối mòn tìm kiếm vô minh và lý tưởng thoát ly sinh tử. Lời tự thuật chân thực này là ngọn hải đăng soi sáng cho người tầm đạo trong toàn tập Kinh Trung Bộ.

Thế Tôn Đến Chỗ Bà La Môn Rammaka Và Nói Về Hai Việc Khi Hội Họp
Một thời, Thế Tôn ở Xá Vệ (Savatthi), tại Kỳ Đà Lâm (Jetavana), vườn ông Cấp Cô Độc (Anathapindika). Một buổi sáng, khi Thế Tôn đi khất thực, một số đông Tỳ Kheo đến thưa với tôn giả A Nan (Ananda) rằng đã lâu họ chưa được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp. Tôn giả A Nan bảo họ đến chỗ Bà La Môn Rammaka, và ở đó họ sẽ được nghe.
Thế Tôn khất thực xong, gọi A Nan cùng đến vườn Đông Viên (Pubbarama), ngôi lầu của Lộc Mẫu (Migaramatu) để nghỉ trưa. Buổi chiều, Ngài từ thiền tịnh đứng dậy, cùng A Nan đến Pubbakotthaka để rửa tay, rửa chân, rồi đứng trên bờ phơi tay chân cho khô.
Tôn giả A Nan bạch rằng tịnh thất của Bà La Môn Rammaka không xa, đáng yêu, đáng ưa, và xin Thế Tôn vì lòng từ bi đến đó. Thế Tôn im lặng nhận lời.
Tại tịnh thất, một số đông Tỳ Kheo đang hội họp để thuyết pháp. Thế Tôn đứng chờ ngoài cửa cho đến khi họ xong, rồi đằng hắng và gõ vào thanh cửa. Các Tỳ Kheo mở cửa, và Ngài vào ngồi ở chỗ đã soạn sẵn.
Ngài hỏi các Tỳ Kheo đang bàn chuyện gì và câu chuyện gì bị gián đoạn. Các vị bạch rằng câu chuyện của họ thuộc về Thế Tôn, và bị gián đoạn khi Ngài đến.
Thế Tôn nói: lành thay khi các thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, rồi cùng nhau hội họp. Khi hội họp, có hai việc cần làm: luận bàn đạo pháp, hoặc giữ sự im lặng của bậc Thánh.
Tìm Cái Cũng Phải Sinh Già Chết Hay Tìm Cái Không Chết
Thế Tôn nói có hai cách tìm cầu: Thánh cầu và phi Thánh cầu.
Phi Thánh cầu.
Có người:
- tự mình bị sinh, lại tìm cầu cái bị sinh
- tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già
- tự mình bị bệnh, lại tìm cầu cái bị bệnh
- tự mình bị chết, lại tìm cầu cái bị chết
- tự mình bị sầu, lại tìm cầu cái bị sầu
- tự mình bị ô nhiễm, lại tìm cầu cái bị ô nhiễm
Thế Tôn giải thích: cái bị sinh là những thứ sau, và người ấy nắm giữ, tham đắm, mê say chúng:
- vợ con
- đầy tớ nam, đầy tớ nữ
- dê và cừu
- gà và heo
- voi, bò, ngựa đực, ngựa cái
- vàng và bạc
Cũng những thứ ấy là bị già. Cũng những thứ ấy là bị ô nhiễm. Với bị bệnh, bị chết và bị sầu, kinh nêu năm nhóm đầu, từ vợ con đến voi, bò, ngựa, và không nêu vàng bạc. Rồi kinh kết: như vậy gọi là phi Thánh cầu.
Thánh cầu.
Có người, sau khi biết rõ sự nguy hại của từng điều dưới đây, tìm cầu điều ngược lại, là sự an ổn vô thượng, thoát khỏi các ách trói buộc, tức Niết Bàn:
- tự mình bị sinh, biết rõ sự nguy hại của bị sinh, tìm cầu cái không sinh
- tự mình bị già, tìm cầu cái không già
- tự mình bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh
- tự mình bị chết, tìm cầu cái bất tử
- tự mình bị sầu, tìm cầu cái không sầu
- tự mình bị ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm
Kinh kết: như vậy gọi là Thánh cầu.

Bồ Tát Xuất Gia Và Học Với Alara Kalama, Uddaka Ramaputta
Thế Tôn kể rằng trước khi giác ngộ, khi còn là Bồ Tát, chính Ngài cũng tự bị sinh mà tìm cầu cái bị sinh, tự bị già mà tìm cầu cái bị già, và cứ vậy đến bị bệnh, bị chết, bị sầu, bị ô nhiễm. Rồi Ngài nghĩ: sao ta lại như vậy? Vậy ta hãy tìm cầu cái không sinh, không già, không bệnh, bất tử, không sầu, không ô nhiễm, là sự an ổn vô thượng, tức Niết Bàn.
Sau một thời gian, khi Ngài còn trẻ, tóc đen nhánh, đầy huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son của cuộc đời, dù cha mẹ không bằng lòng và nước mắt đầy mặt than khóc, Ngài cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Vị thầy thứ nhất: Alara Kalama.
Ngài đi tìm cái chí thiện, tìm con đường an tịnh tối thắng vô thượng. Ngài đến Alara Kalama xin sống phạm hạnh trong pháp luật này. Alara Kalama đáp rằng pháp này khiến người có trí không bao lâu tự biết, tự chứng, tự đạt và an trú, như chính vị Bổn sư của mình. Ngài thông suốt pháp ấy mau chóng, và nói được giáo lý của kẻ trí, của bậc Trưởng lão.
Ngài hỏi và biết mức chứng đạt của Alara Kalama là Vô sở hữu xứ. Ngài nghĩ: không chỉ Alara Kalama mới có năm điều, ta cũng có:
- lòng tin
- tinh tấn
- niệm
- định
- tuệ
Ngài cố gắng và không bao lâu tự chứng pháp ấy. Alara Kalama nói pháp mình biết thì Ngài biết, pháp Ngài biết thì mình biết, rồi mời cùng chăm sóc hội chúng, đặt Ngài ngang hàng và tôn sùng Ngài tối thượng.
Nhưng Ngài nghĩ: pháp này không hướng đến bảy điều sau, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ:
- yểm ly (chán lìa)
- ly tham
- đoạn diệt
- an tịnh
- thượng trí
- giác ngộ
- Niết Bàn
Vì vậy Ngài không tôn kính pháp ấy, từ bỏ và ra đi.
Vị thầy thứ hai: Uddaka Ramaputta.
Mọi việc diễn ra tương tự, chỉ khác mức chứng đạt: Uddaka Ramaputta tuyên bố mức của mình là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ngài tự chứng pháp ấy và được tôn sùng ngang hàng, rồi cũng thấy pháp này không hướng đến bảy điều trên, nên từ bỏ và ra đi.
Chứng Cái Không Sinh Ở Uruvela, Rồi Ngần Ngại Chuyện Thuyết Pháp
Đi tuần tự qua nước Magadha, Ngài đến tụ lạc Uruvela. Ở đó Ngài thấy một địa điểm đáng yêu: một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, có chỗ lội qua dễ dàng, xung quanh có làng mạc để đi khất thực. Ngài nghĩ đây là chỗ vừa đủ để một thiện nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tấn, và ngồi xuống tại đó.
Tại đây, Ngài tự mình bị sinh, biết rõ sự nguy hại của cái bị sinh, tìm cầu cái không sinh, và đã chứng được cái không sinh, sự an ổn vô thượng, Niết Bàn. Ngài cũng chứng được cái không già, không bệnh, không chết, không sầu và không ô nhiễm. Tri kiến khởi lên nơi Ngài: sự giải thoát của Ta không bị dao động, đây là đời sống cuối cùng, không còn tái sinh nữa.
Rồi Ngài nghĩ: pháp này do ta chứng được thật sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, vượt ngoài lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Với họ, thật khó thấy được định lý Idappaccayata Paticcasamuppada (Y Tính Duyên Khởi Pháp), và khó thấy sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sinh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết Bàn. Nếu ta thuyết pháp mà người khác không hiểu, thì thật khổ não và bực mình cho ta.
Những bài kệ chưa từng nghe khởi lên nơi Ngài. Ý của kệ là: sao ta lại nói Chánh pháp khó chứng ngộ này, vì người còn tham sân khó chứng ngộ; pháp này đi ngược dòng, thâm diệu, khó thấy, tế nhị, và kẻ ái nhiễm, vô minh không thấy được. Với những suy tư ấy, tâm Ngài hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp.

Phạm Thiên Sahampati Thỉnh Thế Tôn Thuyết Pháp
Phạm Thiên Sahampati biết tâm tư của Ngài và nghĩ: thế giới sẽ tiêu diệt, sẽ hoại vong, nếu tâm của Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp. Phạm Thiên biến mất khỏi thế giới Phạm Thiên và hiện ra trước mặt Ngài. Vị ấy đắp thượng y một bên vai, chắp tay vái và bạch: “Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sinh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại nếu không được nghe Chánh pháp. Nếu được nghe, những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp.”
Phạm Thiên nói thêm bằng kệ, xin Thế Tôn mở cánh cửa bất tử để mọi người nghe Pháp, và đứng lên đi khắp thế giới thuyết pháp vi diệu, vì người nghe sẽ thâm hiểu.
Biết lời thỉnh của Phạm Thiên, vì lòng từ bi đối với chúng sinh, Thế Tôn dùng Phật nhãn nhìn quanh thế giới. Ngài thấy có:
- hạng ít nhiễm bụi đời và hạng nhiều nhiễm bụi đời
- hạng lợi căn và hạng độn căn
- hạng tính thiện và hạng tính ác
- hạng dễ dạy và hạng khó dạy
Ngài còn thấy một số ít người thấy sự nguy hiểm của việc phải tái sinh ở thế giới khác, và sự nguy hiểm của việc làm những hành động lỗi lầm.
Ngài ví với hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Có hoa sinh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước. Có hoa vươn lên tới mặt nước. Có hoa vươn lên khỏi mặt nước và không bị nước làm ướt.
Ngài đáp Phạm Thiên bằng kệ: cửa bất tử đã mở rộng cho những ai chịu nghe, họ hãy từ bỏ tín tâm không chính xác của mình. Phạm Thiên Sahampati nghĩ: ta đã tạo cơ hội cho Thế Tôn thuyết pháp, rồi đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài, và biến mất.
Thế Tôn Đi Ba La Nại, Gặp Upaka Rồi Gặp Nhóm Năm Tỳ Kheo
Ngài nghĩ nên thuyết pháp đầu tiên cho ai. Ngài nghĩ đến Alara Kalama, bậc trí thức, đa văn, sáng suốt, đã lâu sống ít nhiễm bụi đời. Nhưng chư Thiên đến bạch rằng Alara Kalama đã mệnh chung bảy ngày rồi, và tri kiến khởi lên nơi Ngài đúng như vậy. Ngài nghĩ đó là thiệt hại lớn cho Alara Kalama.
Ngài nghĩ đến Uddaka Ramaputta, cũng là bậc trí thức, đa văn, sáng suốt. Chư Thiên bạch rằng Uddaka Ramaputta đã mệnh chung ngày hôm qua, và tri kiến khởi lên nơi Ngài đúng như vậy. Ngài cũng nghĩ đó là thiệt hại lớn.
Rồi Ngài nghĩ đến nhóm năm Tỳ Kheo đã hầu hạ Ngài khi Ngài còn nỗ lực tinh cần. Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ngài thấy họ đang ở Ba La Nại (Baranasi), tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Sau khi ở Uruvela lâu cho đến khi mãn ý, Ngài lên đường đi Ba La Nại.
Gặp Upaka.
Trên đường giữa Gaya và cây Bồ Đề, một tà mạng ngoại đạo tên Upaka thấy Ngài và nói: các căn của Hiền giả thật sáng suốt, da sắc thật thanh tịnh, thanh khiết. Vì mục đích gì Hiền giả xuất gia, ai là Đạo Sư của Hiền giả, Hiền giả hoan hỷ thọ trì pháp của ai?
Ngài đáp bằng kệ. Ý của kệ: ta không có Đạo Sư, bậc như ta không có, giữa thế giới người và trời không ai bằng ta. Ta là bậc Ứng Cúng, bậc Đạo Sư vô thượng, tự mình Chánh Đẳng Giác. Ta đến thành Kasi để chuyển bánh xe Pháp, gióng lên trống bất tử.
Upaka nói Ngài xứng đáng là bậc Chiến thắng Vô tận. Ngài đáp: những ai chứng lậu tận (diệt hết các phiền não ngấm trong tâm) như ta mới là bậc Thắng giả. Upaka nói: “Này Hiền giả, mong rằng sự việc là vậy”, rồi lắc đầu và đi theo một ngã khác.
Gặp nhóm năm Tỳ Kheo.
Thấy Ngài từ xa đến, nhóm năm Tỳ Kheo thỏa thuận không đảnh lễ, không đứng dậy, không lấy y bát, chỉ đặt một chỗ ngồi, vì cho rằng Sa Môn Gotama sống sung túc, đã từ bỏ tinh cần. Nhưng khi Ngài đến gần, họ không giữ được điều đã thỏa thuận: người đón y bát, người sắp chỗ ngồi, người đem nước rửa chân. Tuy vậy họ vẫn gọi Ngài bằng tên và danh từ “Hiền giả”.
Ngài nói: chớ gọi Như Lai bằng tên và danh từ Hiền giả. Như Lai là bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác. Hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, không bao lâu các ông sẽ tự biết, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại, và an trú trong mục đích vô thượng của phạm hạnh.
Nhóm năm Tỳ Kheo nói: với nếp sống khổ hạnh trước đây Hiền giả đã không chứng được pháp siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, thì làm sao với nếp sống sung túc, từ bỏ tinh cần, trở lui đời sống vật chất, lại có thể chứng được? Ngài đáp rằng Như Lai không sống sung túc, không từ bỏ tinh cần, và lặp lại lời dạy của mình. Việc này diễn ra ba lần.
Lần thứ ba, Ngài hỏi: từ trước đến nay các ông có chấp nhận là Ta chưa bao giờ nói như vậy chăng? Họ đáp: “Bạch Thế Tôn, chưa bao giờ như vậy.” Nhóm năm Tỳ Kheo đã chấp nhận.
Ngài lần lượt thuyết giảng cho hai rồi ba vị, những vị còn lại đi khất thực nuôi cả sáu người. Sau khi được Ngài thuyết giảng và khuyến giáo, năm vị tự mình bị sinh, biết rõ sự nguy hại của cái bị sinh, tìm cầu cái không sinh, và đã chứng được cái không sinh, sự an ổn vô thượng, Niết Bàn. Họ cũng chứng được cái không già, không bệnh, không chết, không sầu, không ô nhiễm. Tri kiến khởi lên nơi họ: sự giải thoát của chúng ta không bị dao động, đây là đời sống cuối cùng, không còn tái sinh nữa.
Chín Bước Thoát Tầm Mắt Ác Ma
Thế Tôn nói có năm thứ nuôi lớn lòng dục (kinh gọi là năm dục trưởng dưỡng). Chúng đáng yêu, đáng mừng, đáng thích, vừa ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn:
- các sắc do mắt nhận thức
- các tiếng do tai nhận thức
- các hương do mũi nhận thức
- các vị do lưỡi nhận thức
- các xúc do thân cảm xúc
Những Sa Môn, Bà La Môn bị trói buộc, bị tham đắm, bị mê say bởi năm thứ này, không thấy sự nguy hại của chúng, không biết rõ cách thoát ra khỏi chúng (kinh gọi là xuất ly) mà vẫn dùng chúng, thì cần được hiểu là đã rơi vào bất hạnh, tai họa, đã bị Ác Ma sử dụng như ý muốn. Cũng như một con nai trong rừng bị sập bẫy nằm xuống: nó đã rơi vào bất hạnh, tai họa, bị thợ săn sử dụng như ý muốn, và khi thợ săn đến, nó không thể bỏ đi như ý muốn.
Còn những Sa Môn, Bà La Môn không bị trói buộc, không tham đắm, không mê say bởi năm thứ này, thấy sự nguy hại của chúng, biết rõ cách thoát ra khỏi chúng mà vẫn dùng chúng, thì không rơi vào bất hạnh, tai họa, không bị Ác Ma sử dụng như ý muốn. Cũng như con nai trong rừng không bị sập bẫy: khi thợ săn đến, nó có thể bỏ đi như ý muốn.
Thế Tôn lại ví với con nai đi qua đi lại trong rừng: nó an tâm đi, an tâm đứng, an tâm ngồi, an tâm nằm. Vì sao vậy? Vì nó vượt khỏi tầm tay của người thợ săn. Cũng vậy, vị Tỳ Kheo đi qua chín bước dưới đây. Ở mỗi bước, vị ấy được gọi là một vị đã làm Ác Ma mù mắt, đã diệt trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt Ác Ma.
- Thiền thứ nhất.
Tỳ Kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, có tầm có tứ. - Thiền thứ hai.
Diệt tầm và tứ, chứng và trú một trạng thái hỷ lạc do định sinh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. - Thiền thứ ba.
Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú. - Thiền thứ tư.
Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. - Không vô biên xứ.
Vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, nghĩ rằng “Hư không là vô biên”. - Thức vô biên xứ.
Vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng “Thức là vô biên”. - Vô sở hữu xứ.
Vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng “Không có vật gì”. - Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. - Diệt thọ tưởng.
Vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng (định). Sau khi thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn trừ.
Với bước cuối, kinh nói thêm: vị ấy đã vượt khỏi mọi triền phược ở đời. An tâm vị ấy đi, an tâm vị ấy đứng, an tâm vị ấy ngồi, an tâm vị ấy nằm, vì vị ấy vượt khỏi tầm tay của Ác Ma. Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ Kheo hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Mình Đang Tìm Điều Gì, Có Bền Không: Ba Việc Thử Từ Kinh Thánh Cầu
Kinh kể lại hành trình của Thế Tôn, nhưng câu hỏi “mình đang tìm gì” là của mỗi người. Ba việc dưới đây là phần áp dụng của người viết, không phải lời kinh.
Ghi ra những gì bạn đang tìm
Kinh nói những thứ ta nắm giữ cũng bị già, bệnh, chết. Kinh không bảo bỏ người thân, nhưng cho thấy chúng không phải nơi nương cuối cùng. Tối nay hãy viết ba thứ bạn tốn nhiều công sức nhất tuần qua, bên cạnh ghi: lúc bệnh hay già, thứ này còn giúp mình không? Cách này không đòi bạn bỏ gì, chỉ giúp thấy rõ. Ví dụ, anh Bảo mải tìm căn nhà lớn hơn, nhưng sau khi ghi, anh dành thêm mỗi tuần một buổi để ngồi yên.
Nhìn rõ nguy hại rồi mới rời đi
Bồ Tát rời hai vị thầy dù được đặt ngang hàng và tôn sùng, vì pháp ấy không hướng đến Niết Bàn. Hãy hỏi về một nhóm hay vai trò của bạn: nó làm mình bớt tham, bớt giận, hay thêm? Ghi câu trả lời trong ba ngày liền. Ví dụ, chị Linh được cả nhóm nể trọng nhưng nhận ra mình thêm khoe khoang. Chị chuyển bớt vai trò, và thấy lòng nhẹ hơn.
Chọn một chỗ vừa đủ để cố gắng
Ở Uruvela, Ngài thấy chỗ vừa đủ để tinh tấn: rừng thoải mái, sông gần, làng gần để khất thực. Bạn cũng không cần chỗ hoàn hảo. Hãy chọn một góc nhà và một giờ cố định để ngồi yên hay đọc kinh mười lăm phút. Ví dụ, cô Hà ngồi bên cửa sổ phòng khách lúc sáu giờ sáng mỗi ngày. Nếu cần một lộ trình từng bước, bạn có thể xem lộ trình 21 ngày học Phật pháp.
Bài trước trong bộ là Kinh Bẫy Mồi, bài tiếp theo là Tiểu Kinh Dụ Dấu Chân Voi.
Câu Hỏi Thường Gặp Về Kinh Thánh Cầu
1. Thánh cầu và phi Thánh cầu khác nhau thế nào?
Phi Thánh cầu là tự mình bị sinh, già, bệnh, chết, sầu, ô nhiễm mà lại đi tìm cầu những thứ cũng bị như vậy, như vợ con hay vàng bạc. Thánh cầu là biết rõ nguy hại của những điều ấy rồi tìm cầu cái không sinh, không già, không bệnh, bất tử, không sầu, không ô nhiễm, tức Niết Bàn.
2. Vì sao Bồ Tát rời Alara Kalama và Uddaka Ramaputta?
Ngài nghĩ pháp của hai vị không hướng đến yểm ly (chán lìa), ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thượng trí, giác ngộ hay Niết Bàn. Pháp ấy chỉ đưa đến Vô sở hữu xứ hoặc Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
3. Phạm Thiên Sahampati xin Thế Tôn điều gì?
Phạm Thiên xin Thế Tôn thuyết pháp, vì có những chúng sinh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại nếu không được nghe Chánh pháp, và nếu được nghe thì có thể thâm hiểu. Sau lời thỉnh ấy, Thế Tôn dùng Phật nhãn nhìn quanh thế giới.















