Tóm Tắt Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi – Kinh Trung Bộ 27: Con Đường Giác Ngộ

Trước vô vàn thông tin và quan điểm đa chiều, chúng ta rất dễ bị cuốn theo những suy đoán vội vàng chỉ dựa trên một vài dấu hiệu bề nổi ban đầu. Trong đời sống tâm linh cũng vậy, việc vội vã thần thánh hóa hay tôn sùng một bậc đạo sư mà thiếu đi sự kiểm chứng toàn diện có thể dẫn đến những lạc lầm đáng tiếc.

Trong Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi (Pali: Cūḷahatthipadopama Sutta – Kinh Trung Bộ 27), Đức Phật đã chỉ ra sự ngộ nhận của người thợ săn chỉ nhìn vết chân to mà đã vội kết luận về con voi chúa vĩ đại. Nghệ thuật thẩm định chân lý qua từng chặng đường tu tập này là chìa khóa then chốt được giảng giải trong loạt bài Kinh Trung Bộ.

Tóm tắt Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi Culahatthipadopama Sutta Kinh Trung Bộ 27

Bối Cảnh Của Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi

Một thời, Thế Tôn ở Xá Vệ (Savatthi), tại Kỳ Đà Lâm (Jetavana), vườn ông Cấp Cô Độc (Anathapindika). Buổi sáng sớm, Bà La Môn Janussoni, ngồi cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, ra khỏi thành Xá Vệ. Ông thấy du sĩ Pilotika từ xa đi đến và hỏi: “Tôn giả Vacchayana đi từ đâu về sớm như vậy?” Du sĩ Pilotika đáp: tôi từ Sa Môn Gotama đến.

Janussoni hỏi Sa Môn Gotama có trí tuệ sáng suốt không, và Pilotika có xem Ngài là bậc có trí không. Pilotika đáp: “Tôi là ai mà có thể biết Sa Môn Gotama có trí tuệ sáng suốt? Chỉ có người như Sa Môn Gotama mới có thể biết.” Janussoni nói như vậy là tán thán tối thượng. Pilotika đáp: tôi là ai mà có thể tán thán bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài người.

Janussoni hỏi vì lý do gì Pilotika có lòng tin như vậy. Pilotika đáp bằng một ví dụ: một người săn voi thiện xảo vào rừng có voi ở, thấy một dấu chân voi lớn, dài và rộng, bèn kết luận đó là con voi lớn. Cũng vậy, tôi thấy bốn dấu chân của Sa Môn Gotama và kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì.”

Bốn dấu chân ấy là bốn hạng người bác học, tế nhị, biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc, đi chỗ này chỗ kia như muốn đả phá các tà kiến bằng trí tuệ của mình:

  1. Một số Sát Đế Lị.
  2. Một số Bà La Môn.
  3. Một số gia chủ.
  4. Một số Sa Môn.

Họ nghe Sa Môn Gotama sẽ đến làng hay thị trấn nào, bèn sắp đặt trước câu hỏi: nếu Ngài trả lời thế này thì ta chất vấn thế kia, nếu Ngài trả lời thế kia thì ta chất vấn thế này. Khi Ngài đến, Ngài dùng pháp thoại khích lệ, làm cho họ phấn khởi, hoan hỷ. Họ không hỏi câu đã định, huống nữa là chất vấn.

Với ba hạng đầu, họ trở thành đệ tử của Sa Môn Gotama. Với hạng thứ tư, họ xin xuất gia, và Ngài cho xuất gia. Một số vị sống một mình, không phóng dật, nỗ lực, tinh cần, không bao lâu tự biết, tự chứng, tự đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích tối thượng của phạm hạnh. Các vị nói: “Thật sự chúng ta gần hoại vong. Xưa kia chúng ta không phải là Sa Môn lại tự xem là Sa Môn, không phải là Bà La Môn lại tự xem là Bà La Môn, không phải là A La Hán lại tự xem là A La Hán. Nay chúng ta mới thật là Sa Môn, Bà La Môn, A La Hán.” Mỗi lần thấy một dấu chân, Pilotika đều kết luận như trên.

Cuộc gặp giữa Bà la môn Janussoni và Du sĩ Pilotika

Đức Phật Bổ Sung Ẩn Dụ Dấu Chân Voi Đầy Đủ

Nghe vậy, Bà La Môn Janussoni bước xuống xe, đắp thượng y lên một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn vái lạy và ba lần thốt: “Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác!” Ông nói rất có thể sẽ gặp tôn giả Gotama lúc nào đó, và sẽ có một cuộc đàm luận.

Rồi Janussoni đến chỗ Thế Tôn, chào hỏi, ngồi xuống một bên và thuật lại toàn bộ câu chuyện của du sĩ Pilotika. Thế Tôn nói: này Bà La Môn, ví dụ dấu chân voi như vậy chưa được đầy đủ một cách rộng rãi. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói ví dụ ấy đầy đủ như thế nào.

Thế Tôn kể: một người săn voi vào rừng có voi ở và thấy một dấu chân voi lớn, dài và rộng. Nếu là thợ săn thiện xảo, người ấy chưa kết luận đó là con voi lớn, vì trong rừng có loại voi cái lùn thấp mà dấu chân lớn. Người ấy đi theo dấu chân, và lần lượt thấy:

  1. những vật cao bị cọ xát; người ấy vẫn chưa kết luận, vì có loại voi cái có ngà cũng có dấu chân lớn
  2. những vật cao bị ngà voi cắt chém; người ấy vẫn chưa kết luận, vì có loại voi cái có ngà lớn cũng có dấu chân lớn
  3. những vật cao bị gãy cành

Và rồi người ấy thấy một con voi đực dưới gốc cây hay ngoài trời, đang đi, đứng, ngồi hay nằm. Lúc ấy người ấy mới kết luận: “Con voi này thật là con voi đực lớn.”

Tiến Trình Tu Chứng Chân Thực (Dấu Chân Như Lai)

Thế Tôn nói: cũng vậy, này Bà La Môn, ở đây Như Lai sinh ra ở đời, là bậc có mười danh hiệu:

  1. A La Hán
  2. Chánh Đẳng Giác
  3. Minh Hạnh Túc
  4. Thiện Thệ
  5. Thế Gian Giải
  6. Vô Thượng Sĩ
  7. Điều Ngự Trượng Phu
  8. Thiên Nhơn Sư
  9. Phật
  10. Thế Tôn

Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này, cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm Thiên giới, cùng chúng Sa Môn, Bà La Môn, chư Thiên và loài người. Khi đã chứng ngộ, Ngài tuyên thuyết điều mình chứng ngộ. Ngài thuyết pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối, văn và nghĩa đầy đủ, và giảng dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch.

Một người gia trưởng, con của gia trưởng, hay người sinh ra trong một giai cấp thấp nào nghe Pháp ấy thì sinh lòng tín ngưỡng Như Lai. Người ấy nghĩ: đời sống gia đình đầy triền phược, con đường đầy bụi đời; đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho người ở gia đình sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia.

Một thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hay lớn, từ bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Giới Hạnh Của Vị Xuất Gia

Khi đã xuất gia, vị ấy thành tựu học giới và nếp sống của Tỳ Kheo. Về thân và lời nói, vị ấy giữ bảy điều:

  1. Từ bỏ sát sinh.
    Bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót tất cả chúng sinh và các loài hữu tình.
  2. Từ bỏ lấy của không cho.
    Chỉ lấy và chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp.
  3. Từ bỏ không phạm hạnh.
    Sống theo phạm hạnh, tránh xa dâm dục tục pháp.
  4. Từ bỏ nói láo.
    Nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không phản lại đời.
  5. Từ bỏ nói hai lưỡi.
    Nghe điều gì ở chỗ này không đem nói chỗ kia để gây chia rẽ. Sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp.
  6. Từ bỏ nói lời độc ác.
    Nói những lời nhẹ nhàng, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng và vui lòng nhiều người.
  7. Từ bỏ nói phù phiếm.
    Nói đúng thời, chân thật, có ý nghĩa, những lời về Pháp, về Luật, đáng được gìn giữ, thuận lý, có mạch lạc, có ích lợi.

Vị ấy còn từ bỏ những việc sau:

  • làm hại hột giống và các loại cây cỏ
  • ăn quá một bữa mỗi ngày, ăn ban đêm, ăn phi thời
  • đi xem múa, hát nhạc, các cuộc trình diễn
  • trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, thời trang
  • dùng giường cao và giường lớn
  • nhận hạt sống
  • nhận thịt sống
  • nhận đàn bà, con gái
  • nhận nô tỳ gái và trai
  • nhận cừu và dê
  • nhận gia cầm và heo
  • nhận voi, bò, ngựa đực, ngựa cái
  • nhận ruộng nương và đất đai
  • nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới
  • buôn bán
  • gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường
  • các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo
  • làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá

Bằng Lòng Với Ít, Giữ Lục Căn, Tỉnh Giác Và Bỏ Ngũ Triền Cái Nơi Thanh Vắng

Bằng lòng với ít.
Vị ấy bằng lòng với tấm y che thân và đồ ăn khất thực nuôi bụng, đi đến đâu cũng mang theo y bát. Như con chim bay đến đâu cũng mang theo hai cánh. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này và cảm thấy lạc thọ thuộc nội tâm, không lỗi lầm.

Giữ Lục Căn (sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý).
Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi và các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự, hộ trì con mắt. Vị ấy làm tương tự khi tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc và ý nhận thức các pháp. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này và cảm thấy lạc thọ thuộc nội tâm, không vẩn đục.

Tỉnh giác.
Vị ấy tỉnh giác trong bảy trường hợp:

  1. khi đi tới, khi đi lui
  2. khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh
  3. khi co tay, khi duỗi tay
  4. khi mang y kép, y bát
  5. khi ăn, uống, nhai, nuốt
  6. khi đại tiện, tiểu tiện
  7. khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng

Chỗ thanh vắng.
Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn, Thánh hộ trì các căn và Thánh chánh niệm tỉnh giác, rồi chọn một trong tám chỗ: rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng, an trú chánh niệm trước mặt.

Bỏ Ngũ Triền Cái (năm thứ che lấp tâm).
Vị ấy gột rửa tâm khỏi từng thứ một:

  1. tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái
  2. sân hận, sống với tâm không sân hận, có lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình
  3. hôn trầm thụy miên, sống với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác
  4. trạo cử hối quá, sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng
  5. nghi ngờ, sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự đối với thiện pháp

Từ Thiền Thứ Nhất Đến Lậu Tận Trí

Ẩn dụ dấu chân voi lớn và tiến trình tu chứng Lậu Tận Trí

Sau khi bỏ Ngũ Triền Cái, vị ấy lần lượt chứng và trú Tứ Thiền, rồi hướng tâm đến Tam Minh. Ở mỗi bước, Thế Tôn đều nói: như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử vẫn chưa đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì.”

  1. Thiền thứ nhất.
    Ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, có tầm có tứ.
  2. Thiền thứ hai.
    Diệt tầm và tứ, chứng và trú một trạng thái hỷ lạc do định sinh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
  3. Thiền thứ ba.
    Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú.
  4. Thiền thứ tư.
    Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy hướng tâm đến Tam Minh (ba minh):

  1. Túc mạng minh.
    Vị ấy nhớ nhiều đời sống quá khứ: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị ấy nhớ: tại chỗ kia ta có tên, dòng họ, giai cấp, khổ lạc, tuổi thọ như thế này; chết ở đó thì sinh ra ở nơi khác, rồi sinh ra ở đây, cùng với các nét đại cương và chi tiết.
  2. Thiên nhãn minh.
    Với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy sự sống và chết của chúng sinh. Người hạ liệt hay cao sang, đẹp đẽ hay thô xấu, may mắn hay bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Ai làm ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, thì sau khi chết sinh vào cõi dữ, địa ngục. Ai làm thiện hạnh, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, thì sau khi chết sinh lên thiện thú, cõi Trời.
  3. Lậu tận trí.
    Vị ấy biết như thật tám điều: đây là Khổ, nguyên nhân của khổ, sự khổ diệt, con đường đưa đến khổ diệt; đây là những lậu hoặc (các phiền não ngấm trong tâm), nguyên nhân của lậu hoặc, các lậu hoặc diệt, con đường đưa đến các lậu hoặc diệt.

Tới Lậu Tận Trí, Vị Thánh Đệ Tử Mới Kết Luận

Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Với tự thân đã giải thoát, vị ấy khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát.” Vị ấy biết: “Sinh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không có trở lui đời sống này nữa.”

Thế Tôn nói: như vậy cũng gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Tới mức độ này, vị Thánh đệ tử mới đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì.” Cũng tới mức độ này, ví dụ dấu chân voi thật sự được đầy đủ một cách rộng rãi.

Nghe vậy, Bà La Môn Janussoni bạch Thế Tôn: “Thật vi diệu thay, tôn giả Gotama!” Ông ví Chánh pháp được trình bày như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã, phơi bày những gì che kín, chỉ đường cho người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối. Ông xin quy y tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ Kheo Tăng, mong được nhận làm đệ tử, từ nay trọn đời quy ngưỡng.

Chưa Thấy Tận Mắt Thì Chưa Vội Kết Luận

Kinh nói về cách nhận ra một bậc giác ngộ, nhưng thái độ của người thợ săn voi cũng dùng được khi ta nhìn người và nhìn mình. Ba việc dưới đây là phần áp dụng của người viết, không phải lời kinh.

Đừng kết luận từ một dấu hiệu

Người thợ săn thiện xảo thấy dấu chân lớn vẫn chưa kết luận, mà đi theo và tìm thêm dấu hiệu. Lần tới khi một việc làm khiến bạn muốn phán xét ai, hãy ghi ra ba dấu hiệu khác bạn cần thấy thêm trước khi tin vào ý nghĩ đầu tiên. Ví dụ, anh Khánh thấy đồng nghiệp trả lời cộc lốc và nghĩ ngay “anh ta kiêu”. Anh ghi lại và theo dõi một tuần, rồi nhận ra người ấy chỉ đang quá tải việc.

Chọn một việc để tỉnh giác

Kinh nêu bảy trường hợp tỉnh giác, từ đi tới đi lui đến co tay duỗi tay. Hãy chọn một việc nhỏ lặp lại mỗi ngày, ví dụ rửa bát, và làm nó năm phút mà chỉ để ý vào việc ấy. Ví dụ, chị Lan để ý bàn tay cầm bát, dòng nước, tiếng chạm, và thấy đầu óc dịu hơn sau bữa tối. Việc nhỏ làm trọn vẹn cũng là một cách tập tỉnh giác.

Dừng một nhịp khi mắt vừa thấy

Kinh dạy khi mắt thấy sắc, đừng nắm giữ tướng chung hay tướng riêng. Lần tới khi lướt điện thoại và thấy một món đồ muốn mua, hãy dừng ba hơi thở trước khi bấm. Ví dụ, chị Thảo thấy đôi giày giảm giá, dừng lại và nhận ra mình đã có ba đôi tương tự. Nếu cần một lộ trình từng bước để bắt đầu, bạn có thể xem lộ trình 21 ngày học Phật pháp.

Bài trước trong bộ là Kinh Thánh Cầu, bài tiếp theo là Đại Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi.

Câu Hỏi Thường Gặp Về Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi

1. Vì sao Thế Tôn nói ví dụ dấu chân voi của Pilotika chưa đầy đủ?

Pilotika kết luận từ bốn hạng người bác học đến gặp Thế Tôn rồi trở thành đệ tử. Thế Tôn nói người thợ săn voi thiện xảo không kết luận chỉ vì thấy một dấu chân lớn, mà phải đi theo đến khi thấy con voi đực. Vì thế vị Thánh đệ tử chỉ kết luận khi đã thấy đến Lậu tận trí.

2. Tam Minh trong kinh này là gì?

Tam Minh (ba minh) là Túc mạng minh, nhớ nhiều đời sống quá khứ; Thiên nhãn minh, thấy sự sống chết của chúng sinh theo hạnh nghiệp; và Lậu tận trí, biết như thật bốn chân lý và các lậu hoặc.

3. “Lậu hoặc” và “Lậu tận trí” nghĩa là gì?

Lậu hoặc là các phiền não ngấm trong tâm, kinh nêu ba loại: dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Lậu tận trí là trí biết các lậu hoặc đã diệt, khiến tâm thoát khỏi cả ba.

Chia sẻ bài viết

Chia sẻ lên Facebook

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *