Tóm Tắt Kinh Tư Lượng (Kinh Trung Bộ 15) – 16 Tánh Khó Nói, Soi Mình

Trong những mối quan hệ hằng ngày, chúng ta thường rất nhanh nhạy trong việc vạch lá tìm sâu lỗi lầm của người khác, nhưng lại xù lông phản kháng khi có ai đó góp ý về mình. Bản ngã kiêu hãnh khiến ta trở thành một người khép kín, bảo thủ và đánh mất cơ hội để tự hoàn thiện.

Như tấm gương trong suốt để ta tự soi rọi lại bóng dáng mình, Kinh Tư Lượng (Pali: Anumāna Sutta – Kinh Trung Bộ 15) chính là phương thuốc đặc trị cho căn bệnh “khó nghe lời” này. Thông qua pháp môn đo lường tâm lý sâu sắc của tôn giả Mục Kiền Liên, bạn sẽ nắm được nghệ thuật nhận diện những tính xấu vi tế và học cách biến lời chỉ trích thành nấc thang tiến bộ. Đừng quên đón đọc các bài giảng quý giá khác trong kho tàng Kinh Trung Bộ.

Tóm tắt Kinh Tư Lượng Trung Bộ 15 Đại Mục Kiền Liên nói về người khó nói

Bối Cảnh Kinh Tư Lượng – Đại Mục Kiền Liên Nói Về Người Khó Bị Nhắc Nhở

Một thời, tôn giả Đại Mục Kiền Liên sống giữa những người thuộc dòng họ Bhagga, tại núi Sumsumaragira, rừng Bhesakala, vườn Lộc Uyển. Tôn giả gọi: “Chư Hiền Tỳ Kheo.” Các Tỳ Kheo đáp: “Thưa Hiền giả.” Rồi tôn giả nói.

Giả sử một Tỳ Kheo thỉnh nguyện: “Mong rằng chư tôn giả nói với tôi, mong rằng tôi được chư tôn giả nói!” Nhưng nếu vị ấy là người khó nói, có đủ những tánh khiến mình khó nói, khó kham nhẫn, không cung kính đón nhận khi được giảng dạy, thì các vị đồng phạm hạnh sẽ nghĩ: Tỳ Kheo ấy không đáng nói đến, không đáng được giáo huấn, và không nên đặt lòng tin vào người ấy.

Mười Sáu Tánh Khiến Của Người Tu

Đại Mục Kiền Liên nêu mười sáu tánh khiến một người trở thành khó nói:

  1. Có ác dục (ham muốn xấu), bị ác dục chi phối.
  2. Khen mình chê người.
  3. Phẫn nộ, bị phẫn nộ chi phối.
  4. Phẫn nộ, rồi vì phẫn nộ mà trở thành người có hiềm hận.
  5. Phẫn nộ, rồi vì phẫn nộ mà trở thành cố chấp.
  6. Phẫn nộ, rồi thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ.
  7. Bị buộc tội thì trở lại chống đối người đã buộc tội mình.
  8. Bị buộc tội thì trở lại chỉ trích người đã buộc tội mình.
  9. Bị buộc tội thì trở lại chất vấn người đã buộc tội mình.
  10. Bị buộc tội thì tránh né vấn đề bằng một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, để lộ phẫn nộ, sân hận và bất mãn của mình.
  11. Bị buộc tội mà không giải thích thỏa mãn hành động của mình cho người buộc tội.
  12. Hư ngụy (giả dối) và não hại (gây phiền não, làm hại người khác).
  13. Tật đố (ganh ghét) và xan tham (keo kiệt).
  14. Lừa đảo và lường gạt.
  15. Ngoan mê (cứng đầu, mê muội) và quá mạn (kiêu mạn quá mức).
  16. Chấp trước thế tục (bám chặt vào việc đời), cố chấp tư kiến (giữ chặt ý riêng), khó hành xả (khó buông bỏ).

Mười sáu tánh khó nói và cách tư lượng bản thân trong Kinh Tư Lượng Trung Bộ 15

Mười Sáu Đức Tánh Của Người Dễ Nói

Ngược lại, có Tỳ Kheo không cần thỉnh nguyện, nhưng là người dễ nói: kham nhẫn, cung kính đón nhận khi được giảng dạy. Các vị đồng phạm hạnh sẽ nghĩ Tỳ Kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo huấn, và nên đặt lòng tin. Mười sáu đức tánh của người dễ nói là:

  1. Không có ác dục, không bị ác dục chi phối.
  2. Không khen mình chê người.
  3. Không phẫn nộ, không bị phẫn nộ chi phối.
  4. Không vì phẫn nộ mà trở thành người hiềm hận.
  5. Không vì phẫn nộ mà trở thành cố chấp.
  6. Không vì phẫn nộ mà thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ.
  7. Bị buộc tội, không trở lại chống đối người đã buộc tội mình.
  8. Bị buộc tội, không trở lại chỉ trích người đã khiển trách mình.
  9. Bị buộc tội, không trở lại chất vấn người đã buộc tội mình.
  10. Bị buộc tội, không tránh né vấn đề bằng một vấn đề khác, không trả lời ra ngoài vấn đề, không để lộ phẫn nộ, sân hận và bất mãn.
  11. Bị buộc tội, giải thích thỏa mãn hành động của mình cho người buộc tội.
  12. Không hư ngụy và não hại.
  13. Không tật đố và xan tham.
  14. Không lừa đảo và lường gạt.
  15. Không ngoan mê và quá mạn.
  16. Không chấp trước thế tục, không cố chấp tư kiến, dễ hành xả (dễ buông bỏ).

Điều Ta Không Ưa Ở Họ, Họ Cũng Không Ưa Ở Ta

Với từng tánh trong mười sáu tánh, Đại Mục Kiền Liên dạy Tỳ Kheo tư lượng như sau: “Người này có ác dục, bị ác dục chi phối nên ta không ưa người ấy, không thích người ấy. Và nếu ta có ác dục, bị ác dục chi phối, các người khác sẽ không ưa ta, không thích ta.”

Biết vậy, Tỳ Kheo phát tâm: “Ta sẽ không có ác dục, sẽ không bị ác dục chi phối.” Cách nghĩ này lặp lại cho cả mười sáu tánh. Ví dụ với tánh thứ hai, vị ấy nghĩ: người này khen mình chê người nên ta không ưa, vậy ta sẽ không khen mình chê người. Với tánh thứ mười một, vị ấy nghĩ: người bị buộc tội mà không giải thích thỏa mãn thì ta không ưa, vậy khi bị buộc tội ta sẽ giải thích thỏa mãn cho người buộc tội biết.

Soi Mình Mỗi Ngày Như Soi Gương: Thấy Bụi Thì Lau, Không Thấy Thì Vui

Đại Mục Kiền Liên dạy tiếp: Tỳ Kheo cần quán sát chính mình, hỏi từng tánh một. Ví dụ: “Không biết ta có ác dục, có bị ác dục chi phối không?” Hỏi như vậy cho cả mười sáu tánh.

  • Nếu quán sát và biết mình có tánh ấy, vị ấy cần tinh tấn đoạn trừ các ác, bất thiện pháp ấy.
  • Nếu quán sát và biết mình không có, vị ấy sống với tâm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

Bài học soi gương tâm mỗi tối từ Kinh Tư Lượng Trung Bộ 15

Ngài đưa ví dụ: một phụ nữ hay một đàn ông trẻ tuổi, đang tuổi thanh xuân, ưa trang điểm, tự soi mặt mình trong tấm kính sạch và trong suốt, hay trong bát nước trong sáng. Nếu thấy bụi bặm hay cấu uế trên mặt, người ấy tinh tấn lau đi. Nếu không thấy, người ấy hoan hỷ nghĩ: “Thật sự ta được điều tốt đẹp; thật sự ta được thanh tịnh.”

Cũng vậy, khi quán sát, nếu Tỳ Kheo thấy các ác, bất thiện pháp chưa đoạn trừ ở nội tâm, vị ấy cần tinh tấn đoạn trừ. Nếu thấy đã đoạn trừ, vị ấy sống hoan hỷ, ngày đêm tu học thiện pháp.

Tôn giả Đại Mục Kiền Liên thuyết giảng như vậy. Các Tỳ Kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của tôn giả.

Nghe Góp Ý Mà Nóng Mặt? Soi Mình Trước, Phản Ứng Sau

Kinh nói với Tỳ Kheo, nhưng ba tình huống dưới đây gặp ở bất kỳ ai. Ba cách này là phần áp dụng của người viết, không phải lời kinh.

Trả lời đúng điều được hỏi

Kinh liệt kê những cách phản ứng khi bị buộc tội: chống đối, chỉ trích ngược lại, chất vấn lại, lảng sang chuyện khác. Lần tới bị góp ý, hãy im lặng ba nhịp thở rồi trả lời đúng câu được hỏi. Ví dụ, sếp nói báo cáo nộp trễ. Thay vì nói “ai cũng trễ mà”, bạn nói: “Em trễ vì thiếu số liệu, lần sau em xin số liệu sớm hơn.” Trả lời như vậy là đã làm đúng mục thứ mười và mười một của kinh.

Tự hỏi mình có làm điều mình ghét

Kinh dạy nghĩ: “Người này như vậy nên ta không ưa. Nếu ta cũng vậy, người khác sẽ không ưa ta.” Cuối ngày, hãy nhớ một điều bạn không ưa ở ai đó và hỏi: mình có làm việc đó không? Ví dụ, bạn bực người đồng nghiệp hay khoe công. Hãy hỏi: hôm nay mình có nhắc công của mình quá nhiều trong cuộc họp không?

Chọn một tánh để soi mỗi tối

Kinh ví việc soi mình như soi gương: thấy bụi thì lau, không thấy thì vui. Mỗi tuần chọn một trong mười sáu tánh, tối nào cũng hỏi một câu. Ví dụ, tuần này chọn “phẫn nộ”: trước khi ngủ, hỏi hôm nay mình có nổi giận không, và vì chuyện gì. Nếu có, ghi lại một dòng. Nếu không, mỉm cười ghi nhận. Bạn cũng có thể bắt đầu từ lộ trình 21 ngày học Phật pháp.

Bài trước trong bộ là Tiểu Kinh Khổ Uẩn, bài tiếp theo là Kinh Tâm Hoang Vu.

Câu Hỏi Thường Gặp Về Kinh Tư Lượng

1. Ai thuyết Kinh Tư Lượng?

Tôn giả Đại Mục Kiền Liên thuyết cho các Tỳ Kheo, tại vườn Lộc Uyển, rừng Bhesakala. Cuối kinh ghi các Tỳ Kheo hoan hỷ, tín thọ lời dạy của tôn giả.

2. “Tư lượng” nghĩa là gì?

Tư lượng là tự đo lường mình bằng cách nhìn người khác. Vị Tỳ Kheo nghĩ: người này như vậy nên ta không ưa, nếu ta như vậy thì người khác cũng không ưa ta.

3. Người khó nói và người dễ nói khác nhau ở đâu?

Người khó nói có mười sáu tánh như ác dục, phẫn nộ, chống đối khi bị buộc tội, nên bạn đồng phạm hạnh nghĩ không đáng góp ý. Người dễ nói không có các tánh ấy, nên bạn đồng phạm hạnh nghĩ đáng nói với, đáng giáo huấn và nên tin.

Chia sẻ bài viết

Chia sẻ lên Facebook

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *