Đôi khi chúng ta thường đánh giá sự vĩ đại của một người qua những phép lạ siêu nhiên hay những màn phô diễn khổ hạnh ép xác mà quên mất cốt lõi thực sự của trí tuệ. Đó cũng là sai lầm của một vị tỳ kheo khi rời bỏ tăng đoàn và buông lời chê bai đạo sư của mình.
Trả lời cho sự nghi ngờ thiển cận đó, Đại Kinh Sư Tử Hống (Pali: Mahāsīhanāda Sutta – Kinh Trung Bộ 12) là lời tuyên xưng đanh thép về năng lực của một bậc Chánh Đẳng Giác. Bằng việc phơi bày những giới hạn của lối tu hành hành xác và hé lộ mười sức mạnh vô song của Như Lai, bài kinh sẽ giúp bạn định nghĩa lại thế nào là sự vĩ đại đích thực. Bạn có thể tìm đọc thêm những bài giảng hùng hồn như vậy tại danh mục Kinh Trung Bộ.

Sunakkhatta Rời Bỏ Pháp Và Luật Rồi Chê Phật Không Có Pháp Thượng Nhân
Đức Phật trú tại Tỳ Xá Ly (Vesali), trong một khu rừng phía Tây ngoài thành. Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi, vừa rời bỏ Pháp và Luật này, rồi nói giữa hội chúng ở Tỳ Xá Ly rằng:
- Sa Môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.
- Pháp của ông do mình tự tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm.
- Pháp ấy thuyết cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau.
Tôn giả Xá Lợi Phất (Sariputta) đi khất thực nghe lời ấy, về trình lên Phật. Phật nói Sunakkhatta phẫn nộ và ngu si, do phẫn nộ nên nói như vậy. Ông nghĩ mình đang nói xấu, nhưng lại nói lời tán thán Như Lai. Ai nói rằng pháp này được thuyết cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng dẫn người thực hành diệt tận khổ đau, người ấy đang tán thán Như Lai.
Phật nói thêm: Sunakkhatta ngu si ấy sẽ không có tùy pháp nào về Ngài như sau.
- Đây là Như Lai, A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
- Đây là Thế Tôn đã chứng các loại thần thông, như một thân hiện ra nhiều thân, đi ngang qua vách, qua núi, đi trên nước, ngồi kiết già đi trên hư không, chạm vào mặt trăng, mặt trời, hay bay đến cõi Phạm Thiên.
- Đây là Thế Tôn có thiên nhĩ thanh tịnh, nghe được hai loại tiếng của chư Thiên và loài người, xa và gần.
- Đây là Thế Tôn biết được tâm của chúng sinh: tâm có tham biết là tâm có tham, tâm không tham biết là tâm không tham, và tương tự với các trạng thái khác của tâm.
Thập Lực – Mười Điều Như Lai Biết Rõ
Cùng chủ đề tiếng rống sư tử với Tiểu Kinh Sư Tử Hống (Kinh Trung Bộ 11), ở đây Phật nói Như Lai có đủ Thập Lực. Nhờ đó, Như Lai tự nhận địa vị Ngưu Vương (vua của đàn bò), rống tiếng sư tử giữa các hội chúng và chuyển Phạm luân (chuyển bánh xe pháp). Mười điều ấy là:
- Biết như thật xứ là xứ, phi xứ là phi xứ (điều có thể xảy ra và điều không thể xảy ra).
- Biết như thật quả báo của các hành nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại, theo nguyên do và nhân của chúng.
- Biết như thật con đường đưa đến tất cả cảnh giới.
- Biết như thật thế giới với mọi cảnh giới, nhiều chủng loại, nhiều sai biệt.
- Biết như thật chí hướng sai biệt của các loại hữu tình.
- Biết như thật các căn thượng hạ của các loài hữu tình.
- Biết như thật sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh và sự xuất khởi của các thiền, các chứng, giải thoát và định.
- Nhớ các đời sống quá khứ, từ một đời đến hàng trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, cùng tên, dòng họ, giai cấp, khổ lạc và tuổi thọ ở mỗi đời.
- Với thiên nhãn thuần tịnh, thấy sự sống và chết của chúng sinh, và biết họ hạ liệt hay cao sang, may mắn hay bất hạnh đều do hạnh nghiệp.
- Nhờ đoạn trừ các lậu hoặc (những ô nhiễm trong tâm), tự mình chứng ngộ và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Sau phần này, Phật cảnh báo: ai biết Ngài như vậy, thấy Ngài như vậy mà vẫn nói Ngài không có pháp thượng nhân, nếu không từ bỏ lời nói ấy, tâm ấy và tà kiến ấy, sẽ rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên. Kinh lặp lại cảnh báo này sau mỗi phần lớn của bài.
Kinh cũng nói: Tỳ Kheo thành tựu giới hạnh, thiền định và trí tuệ có thể chứng chánh trí ngay trong hiện tại.
Tứ Vô Sở Úy Và Tám Hội Chúng
Phật nói có bốn điều giúp Như Lai sống an ổn, không sợ hãi, vô úy. Ngài không thấy lý do nào để một Sa Môn, Bà La Môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay ai ở đời có thể chỉ trích Ngài đúng pháp rằng:
- “Các pháp này chưa được chứng ngộ hoàn toàn, mà quý vị tự xưng đã chứng ngộ hoàn toàn.”
- “Các lậu hoặc này chưa được đoạn trừ mà quý vị tự xưng đã đoạn trừ.”
- “Những pháp này được gọi là các chướng ngại pháp, khi được thực hành thời không có gì gọi là chướng ngại pháp cả.”
- “Pháp do quý vị thuyết giảng không đưa đến mục tiêu đặc biệt, không có khả năng hướng thượng, không có thể dẫn người thực hành đến diệt tận khổ đau.”
Với bốn điều ấy, Phật đến gần và vào tám hội chúng:
- Hội chúng Sát Đế Lị.
- Hội chúng Bà La Môn.
- Hội chúng gia chủ.
- Hội chúng Sa Môn.
- Hội chúng Tứ Thiên Vương.
- Hội chúng Tam Thập Tam Thiên.
- Hội chúng Ma (Mara).
- Hội chúng Phạm Thiên.
Ngài nhớ mình đã đến hàng trăm hội chúng ở mỗi loại. Trước khi ngồi xuống, nói chuyện hay đàm luận, Ngài không thấy lý do nào để nghĩ rằng sợ hãi và run sợ sẽ đến ám ảnh Ngài. Cuối phần này, kinh lại nhắc cảnh báo dành cho người nói rằng Ngài không có pháp thượng nhân.
Bốn Loại Sinh, Năm Cảnh Giới Tái Sinh Và Con Đường Đến Niết Bàn
Phật nói có bốn loại sinh:
- Noãn sinh: những chúng sinh phá vỏ trứng mà sinh ra.
- Thai sinh: những chúng sinh phá màn da mỏng che chỗ kín mà sinh ra.
- Thấp sinh: những chúng sinh sinh ra từ cá thối, xác chết thối, cháo cơm thiu, hay trong hồ nước dơ, ao nước nhớp.
- Hóa sinh: chư Thiên, các chúng sinh ở địa ngục, một số thuộc loài người và một số thuộc đọa xứ.
Rồi Ngài nói về năm cảnh giới tái sinh: địa ngục, bàng sinh, ngạ quỷ, loài người và chư Thiên. Với mỗi cảnh giới, Ngài biết rõ cảnh giới ấy, con đường và hành lộ đưa đến đó. Ngài cũng biết rõ Niết Bàn, con đường và hành lộ đưa đến Niết Bàn.
Cách Ngài biết được kể như sau. Với tâm của mình, Ngài biết tâm của một số người: hành nghiệp như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy thì sẽ sinh vào nơi nào. Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh, Ngài thấy người ấy đã sinh vào nơi đó và cảm thọ như thế nào. Mỗi trường hợp, Ngài ví với một người có mắt nhìn thấy một người khát nước, bị nóng bức hành hạ, đi thẳng một con đường đến một nơi, rồi nói trước nơi người ấy sẽ đến. Sau một thời gian, người có mắt thấy người kia đang ở nơi đó.

Mỗi nơi sinh đến ứng với một cảnh trong ví dụ của kinh và một cảm thọ riêng:
- Địa ngục.
Ví dụ của kinh: Một hố than sâu hơn thân người, đầy than hừng, không ngọn lửa, không khói.
Cảm thọ: Những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. - Bàng sinh.
Ví dụ của kinh: Một hố phân sâu hơn thân người, đầy phẩn uế.
Cảm thọ: Những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. - Ngạ quỷ.
Ví dụ của kinh: Một cây mọc trên đất không bằng phẳng, lá thưa thớt, bóng che lưa thưa. Người ấy ngồi hay nằm dưới bóng cây.
Cảm thọ: Những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. - Loài người.
Ví dụ của kinh: Một cây mọc trên đất bằng phẳng, lá sum sê, bóng cây rậm rạp. Người ấy ngồi hay nằm dưới bóng cây.
Cảm thọ: Nhiều cảm giác lạc thọ. - Chư Thiên.
Ví dụ của kinh: Một ngôi lầu gác nhọn, tô vôi cả trong lẫn ngoài, cửa sổ khép kín. Bên trong có sàng tọa trải nệm lông dài, nệm trắng, nệm bông thêu hoa, gối dài màu đỏ cả hai đầu.
Cảm thọ: Nhiều cảm thọ cực lạc. - Niết Bàn.
Ví dụ của kinh: Một hồ sen nước trong, ngọt, mát, bờ hồ khéo sắp đặt, gần đó có rừng cây rậm rạp. Người ấy tắm rửa, uống nước, làm dịu mọi ưu tư, mệt mỏi, phiền não, rồi ngồi hay nằm trong rừng.
Cảm thọ: Những cảm giác cực lạc. Người ấy đoạn trừ các lậu hoặc, chứng vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Cuối phần này, kinh nhắc lại cảnh báo và lời nói về Tỳ Kheo thành tựu giới hạnh, thiền định, trí tuệ.
Bốn Hạnh Đệ Nhất Của Bồ Tát Trước Khi Giác Ngộ
Phật nói Ngài đầy đủ bốn hạnh trong phạm hạnh, và ở mỗi hạnh Ngài là bậc đệ nhất: khổ hạnh, bần uế (sống không chăm chút thân thể), yểm ly (tỉnh giác, giữ lòng từ) và độc cư (sống một mình).

- Khổ hạnh. Ngài sống lõa thể, liếm tay cho sạch, không nhận đồ ăn mang đến hay nấu riêng cho mình. Ngài chỉ nhận ăn tại một nhà, một miếng, có khi ăn hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa, thậm chí nửa tháng mới ăn một lần. Ngài ăn cỏ, trấu, rễ cây, trái cây rụng. Ngài mặc vải gai thô, vỏ cây, lông cú. Ngài nhổ râu tóc, đứng không ngồi, nằm trên giường gai. Kinh nói Ngài sống theo hạnh hành hạ, dày vò thân thể theo nhiều cách.
- Bần uế. Bụi bặm chất trên thân Ngài suốt nhiều năm, đóng thành tấm, thành miếng. Ngài không nghĩ đến việc phủi sạch, hay nhờ người khác phủi.
- Yểm ly. Ngài tỉnh giác khi đi tới, đi lui, và an trú lòng từ cho đến cả trong một giọt nước, mong không làm hại một chúng sinh nhỏ nào.
- Độc cư. Ngài đi sâu vào rừng. Thấy người chăn bò, người cắt cỏ, người đốn củi, Ngài chạy từ rừng này qua rừng khác để họ không thấy Ngài và Ngài không thấy họ, như con thú rừng thấy người thì chạy. Ngài bò bốn chân đến chuồng bò khi bò cái đã đi và người chăn không có mặt, rồi ăn phân của các con bò con. Khi phân và nước tiểu của chính Ngài còn, Ngài tự nuôi sống bằng chúng. Kinh gọi đó là hạnh đại bất tịnh thực.
- Rừng kinh hoàng. Ngài sống trong một khu rừng rậm kinh hoàng, nơi người còn tham ái bước vào thì lông tóc dựng ngược. Đêm đông có tuyết, Ngài sống giữa trời. Cuối mùa hè, ban ngày ở giữa trời, ban đêm trong rừng rậm. Ngài nằm ngủ trong bãi tha ma, dựa trên một bộ xương. Mục đồng đến khạc nhổ, tiểu tiện trên Ngài, rắc bụi và lấy que đâm vào tai. Ngài biết mình không khởi ác tâm với chúng. Kinh gọi đó là hạnh trú xả.
Bạn có thể đối chiếu với Kinh Sợ Hãi Và Khiếp Đảm (Kinh Trung Bộ 4), nơi Ngài kể về những đêm sống một mình trong rừng.
Sáu Quan Điểm Về Thanh Tịnh
Kinh kể một số Sa Môn, Bà La Môn nói rằng thanh tịnh đến nhờ món ăn. Họ sống nhờ trái táo, đậu xanh, vừng mè hay hột gạo. Phật nói Ngài từng sống chỉ ăn một trái táo, hay một hột gạo. Ngài nói trái táo và hột gạo thời ấy giống như ngày nay, không to lớn hơn. Thân Ngài trở nên hết sức ốm yếu: tay chân như cọng cỏ khô, xương sống phô bày như chuỗi banh, da bụng bám chặt xương sống. Khi đi đại tiểu tiện, Ngài ngã úp mặt xuống đất. Khi xoa bóp chân tay, lông tóc hư mục rụng khỏi thân.
Dù vậy, Phật nói Ngài không chứng được pháp thượng nhân và tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Với những phương tiện ấy, không chứng được pháp thượng nhân với Thánh trí tuệ. Chính Thánh trí tuệ này mới có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau.
Kinh nêu sáu quan điểm về thanh tịnh, và lời đáp của Phật cho từng quan điểm:
- Thanh tịnh nhờ món ăn: Ngài đã sống với những món ăn ít ỏi nhất, như trên, mà không chứng.
- Thanh tịnh nhờ luân hồi: thật không dễ tìm được sự luân hồi mà Ngài chưa trải qua trong một thời gian dài, trừ các vị Tịnh Cư Thiên (Suddhavasa). Nếu Ngài luân hồi ở Tịnh Cư Thiên thì đã không trở lại đời này.
- Thanh tịnh nhờ sinh khởi: cũng vậy, trừ Tịnh Cư Thiên.
- Thanh tịnh nhờ an trú: cũng vậy, trừ Tịnh Cư Thiên.
- Thanh tịnh nhờ tế tự: thật không dễ tìm được sự tế tự mà xưa kia Ngài không làm, khi là vua Sát Đế Lị có làm lễ quán đảnh hay là Bà La Môn giàu có.
- Thanh tịnh nhờ thờ lửa: cũng vậy, Ngài đã làm trong những thời ấy.
Đức Phật Tuổi Tám Mươi Và Tên Gọi “Pháp Môn Lông Tóc Dựng Ngược”
Kinh còn nêu một quan điểm nữa: người trẻ có trí tuệ biện tài tối thượng, nhưng khi già, đến tám mươi, chín mươi hay một trăm tuổi, trí tuệ ấy bị đoạn trừ. Phật nói chớ quan niệm như vậy. Ngài đã già, tuổi đến tám mươi. Ngài có bốn đệ tử sống đến một trăm tuổi, chánh niệm, chuyên tâm, tinh cần đệ nhất và đủ trí tuệ biện tài tối thượng. Ngài ví họ như người bắn cung thiện xảo, với một mũi tên nhẹ có thể dễ dàng bắn ngang bóng một cây ta la.
Phật nói: dù bốn vị ấy hỏi Ngài nhiều lần về Tứ Niệm Xứ (bốn niệm xứ: quán thân, thọ, tâm, pháp), Ngài giải thích nhiều lần, họ hiểu và sống đến một trăm tuổi rồi qua đời, thì sự thuyết pháp của Như Lai vẫn chưa hoàn tất. Nếu Xá Lợi Phất gánh Ngài trên giường đi chỗ này chỗ kia, trí tuệ biện tài của Như Lai cũng không có gì thay đổi.
Ngài kết: người nói một cách chân chánh sẽ nói về Ngài là một vị hữu tình không bị si chi phối, sinh ra ở đời vì lợi ích, hạnh phúc cho chúng sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài người.
Lúc ấy tôn giả Nagasamala đứng sau lưng Phật quạt cho Ngài. Ông thưa: sau khi nghe pháp môn này, lông tóc con dựng ngược, xin hỏi pháp môn này tên gì. Phật nói pháp môn này gọi là “Pháp môn Lông tóc dựng ngược”, và dạy ông thọ trì như vậy. Nagasamala hoan hỷ tín thọ.
Khi Bị Chê, Đừng Phô Diễn Hay Hành Xác
Khi bị Sunakkhatta chê, Đức Phật không đáp bằng lời qua lại. Ngài nêu điều Ngài biết, điều Ngài không sợ và điều Ngài đã trải. Ba cách thử dưới đây là phần áp dụng của người viết, không phải lời kinh. Nếu mới bắt đầu, bạn có thể đi theo lộ trình 21 ngày học Phật pháp.
Trả lời lời chê bằng việc đã làm
Kinh kể Ngài không phô thần thông, mà nói về Thập Lực, những điều Ngài biết như thật. Lần tới có người nói bạn không làm nổi một việc, đừng cãi ngay. Hãy viết ra ba việc cụ thể bạn đã làm được. Ví dụ đồng nghiệp bảo bạn không đủ sức dẫn dắt nhóm. Bạn không cần chứng minh bằng lời, chỉ cần đưa ra các công việc nhóm đã hoàn thành tháng qua.
Dừng việc ép mình mà tâm không nhẹ hơn
Kinh nói Ngài khổ hạnh đệ nhất, có lúc chỉ ăn một hột gạo, mà vẫn không chứng pháp thượng nhân bằng phương tiện ấy. Hãy xem mình có đang ép mình theo cách tương tự không, như nhịn ăn, thức khuya hay tự trách quá mức. Hỏi: sau việc này, mình bớt tham, sân, si hay chỉ mệt thêm? Ví dụ bạn dậy lúc ba giờ sáng để ngồi thiền, rồi cả ngày cáu gắt. Hãy đổi giờ cho vừa sức.
Xem hình thức nào đang thay việc sửa tâm
Kinh nêu các quan điểm cho rằng thanh tịnh đến nhờ món ăn, tế tự hay thờ lửa, và Phật nói Ngài từng trải qua những việc ấy. Chọn một nghi thức hay thói quen bạn đang giữ, rồi hỏi: nó có giúp mình bớt nóng giận, bớt tham không? Ví dụ một người đi chùa mỗi rằm nhưng về nhà vẫn quát con. Nghi thức có thể giữ, nhưng nên thêm việc sửa lời nói trong nhà.
Câu Hỏi Thường Gặp Về Đại Kinh Sư Tử Hống
1. Vì sao Phật nói Sunakkhatta đã tán thán Như Lai?
Sunakkhatta nói pháp của Phật có thể dẫn người thực hành đến diệt tận khổ đau. Phật nói ai nói như vậy là tán thán Như Lai, dù Sunakkhatta nói trong lúc phẫn nộ và ngu si.
2. Thập Lực và Tứ Vô Sở Úy là gì?
Thập Lực (mười lực của Như Lai) là mười điều Như Lai biết như thật, từ xứ và phi xứ cho đến việc đoạn trừ lậu hoặc. Tứ Vô Sở Úy (bốn điều Phật không thấy lý do để sợ bị chỉ trích đúng pháp) là bốn lời chỉ trích mà Ngài thấy không ai có thể nêu đúng pháp.
3. Phật kể lại hành trình khổ hạnh để nói điều gì?
Kinh nêu Ngài khổ hạnh đệ nhất, có lúc chỉ ăn một hột gạo, nhưng bằng phương tiện ấy Ngài không chứng pháp thượng nhân. Chỉ có Thánh trí tuệ mới có khả năng hướng thượng và dẫn người thực hành diệt tận khổ đau.















